chương 1 Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể; câu hỏi nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu bao gồm: phạm vi về nội dung nghiên cứu, phạm vi không gian, phạm vi thời gian, đối tượng khảo sát; giới thiệu phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng; và kết cấu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Tiền gửi tiết kiệm 2.1 Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi được định nghĩa là các quỹ được đặt trong một tổ chức tài chính bởi các đơn vị thặng dư kinh tế như chủ nhà, tập đoàn, nhà đầu tư và chính phủ. Những khoản tiền này có thể là từ tiền mặt, yêu cầu bồi thường tiền, như séc được đặt trong tài khoản của người gửi tiền, các khoản vay ngân hàng hoặc tiền từ các khoản đầu tư (Van Dahm, 1995). Tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của năm hiện tại và nó không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng.
Đây là khoản tiền gửi của bên thứ ba có thể rút bất cứ lúc nào và chỉ có thể thực hiện trong một số điều kiện nhất định, bao gồm các hình thức tiết kiệm tiền mặt, sổ tiết kiệm và chứng minh thư. Ahmed (2010) định nghĩa tiền gửi là tiền mà khách hàng đặt với ngân hàng và ngân hàng có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu, sau một khoảng thời gian cụ thể hoặc sau khi hết thời hạn thông báo bắt buộc. Tiền gửi là nguồn tài trợ chính cho hầu hết các ngân hàng và do đó, có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản của ngân hàng. Do đó, huy động tiền gửi cho ngân hàng cũng cần thiết như oxy cho con người.
Theo Audu và cộng sự (2015), chủ sở hữu ngân hàng quan tâm nhiều hơn đến việc tìm nguồn cung ứng tiền gửi bằng mọi cách có thể. Họ cũng quan sát thấy rằng các ngân hàng thường đặt mục tiêu bất khả thi cho nhân viên trong bộ phận tiếp thị, do đó tiếp thị trở thành chức năng quan trọng nhất trong các ngân hàng. Tại Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng. Tiền gửi tiết kiệm chung là tiền gửi tiết kiệm của từ hai người gửi tiền trở lên.
Được xác nhận trên thẻ tiết kiệm hoặc Sổ tiết kiệm (sau đây gọi chung là Thẻ tiết kiệm) để chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng. Người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng và xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền; trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm chung, tất cả người gửi tiền phải trực tiếp xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của mình. Trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại 9 diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền (Thông tư 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018).2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm Theo Nguyễn Minh Kiều (2018), Tiền gửi tiết kiệm được chia thành 2 loại là có kỳ hạn và không có kỳ hạn và. Thời hạn gửi tiền cụ thể do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quyết định.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể yêu cầu rút tiền mà không cần báo trước vào bất cứ ngày làm việc nào tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (Nguyễn Minh Kiều, 2018). Mục đích là nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng hàng thường phải trả lệ phí cho ngân hàng nhưng do điều kiện và tính chất cạnh tranh và ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để hoạt động nên khách hàng hàng không phải trả phí mà ngân hàng trả lãi cho khách hàng hàng nhưng với lãi suất thấp. Loại tiền gửi này ngân hàng chỉ sử dụng một phần, còn phần lớn để đảm bảo thanh toán cho khách hàng hàng. Các hình thức thường thấy là sổ tiết kiệm không kỳ hạn (Nguyễn Minh Kiều, 2018).
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (Nguyễn Minh Kiều, 2018). Mục đích của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khách hàng hàng muốn đầu tư để hưởng lãi, chính vì vậy lãi suất loại tiền gửi này khá cao. Các hình thức thường thấy là thẻ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi (Nguyễn Minh Kiều, 2018).3 Tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm Huy động vốn là một hoạt động rất quan trọng. Dòng vốn là nguồn vốn quan trọng cho hoạt động của ngân hàng thương mại, nếu không có dòng vốn thì ngân hàng không thể hoạt động hiệu quả.
Khi được cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn đăng ký nhất định. Tuy nhiên, số vốn này chỉ đủ trang trải cho các tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc, thiết bị cần thiết, ngân hàng 10 cần một lượng vốn lớn để thực hiện hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này được huy động từ khách hàng, nguồn vốn này có ý nghĩa rất lớn đối với cả khách hàng và ngân hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2018). - Đối với các ngân hàng thương mại: nghiệp vụ huy động vốn, trong đó tiền gửi tiết kiệm đóng vai trò quan trọng và là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động của ngân hàng.
Từ hoạt động huy động vốn này, ngân hàng có thể thấy được uy tín và sự tin tưởng mà khách hàng dành cho ngân hàng. Đánh giá những điểm mấu chốt của vấn đề và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa nguồn và chất lượng vốn (Nguyễn Minh Kiều, 2018). - Đối với khách hàng: Khi có tiền nhàn rỗi, họ luôn muốn đầu tư tiền của mình một cách an toàn và hiệu quả. Tiết kiệm là kênh đầu tư an toàn để tích trữ và kiếm lợi nhuận.
Khi khách hàng cần vốn để sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng, giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ ngân hàng khác, đặc biệt thông qua dịch vụ thanh toán và dịch vụ tín dụng của ngân hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2018).2 Quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân 2.1 Khách hàng cá nhân Theo nghĩa thông thường, khách hàng của ngân hàng được hiểu là tập hợp các cá nhân, doanh nghiệp, nhóm người, tổ chức… có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. Khách hàng của ngân hàng bao gồm cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay vốn (tham gia cả vào quá trình cung cấp vốn đầu vào và cả quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ). Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Sau khi thu thập và phân tích các thông tin về khách hàng, ngân hàng tiến hành phân loại để có được danh sách các khách hàng mục tiêu mà ngân hàng hướng tới nhằm giúp ngân hàng khai thác và quản lý khách hàng có hiệu quả hơn (Nguyễn Thu Quỳnh, 2020).
Khách hàng có một tầm quan trọng rất lớn đối với thành công của ngân hàng, doanh nghiệp. Mục tiêu của ngân hàng, doanh nghiệp là “tạo ra khách hàng”. Ngân hàng, doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng để tồn tại. Khách hàng là một phần trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ ngân hàng, doanh nghiệp nào, khi khách hàng sử dụng sản phẩm của ngân hàng, doanh nghiệp là đang giúp đỡ chính ngân hàng, doanh nghiệp đó (Philip Kotler, 2007).
11 Ngân hàng thường phân loại khách hàng thành 2 nhóm là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức, mỗi nhóm có các yêu cầu, quy định về chất lượng dịch vụ khác nhau (Nguyễn Thu Quỳnh, 2020). Một số ngân hàng còn dựa vào tần suất sử dụng và mức độ sử dụng dịch vụ của khách hàng để phân loại khách hàng theo nhóm khách hàng tiềm năng, khách hàng thân thiết hay khách hàng ưu tiên. Những nhóm khách hàng này đều được hưởng chính sách ưu đãi riêng (Nguyễn Thu Quỳnh, 2020).2 Quyết định gửi tiết kiệm Khách hàng trải qua một quá trình mua sắm phức tạp khi họ đưa ra quyết định lựa chọn một dịch vụ phù hợp để đáp ứng nhu cầu của họ. Quá trình lựa chọn, sử dụng và đánh giá các dịch vụ ngân hàng bao gồm ba giai đoạn khác nhau: giai đoạn trước khi mua, triển khai dịch vụ và giai đoạn sau mua hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2018).
Giai đoạn lựa chọn trước để mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm, nhận thức về nhu cầu: những cân nhắc thực tế khi bạn chọn ngân hàng như làm thế nào để số tiền nhàn rỗi này có thể an toàn nhất để kiếm được lợi nhuận cao nhất? Danh mục nào phù hợp nhất để đầu tư? Tìm kiếm dữ liệu: tìm ra thông tin để đầu tư tiền nhàn rỗi của bạn. Bạn nên chọn ngân hàng nào nếu bạn quyết định mở tài khoản tiết kiệm? Tại sao chọn ngân hàng này để gửi tiền mà không phải ngân hàng khác? Đánh giá và lựa chọn ngân hàng: nhận thức chủ quan của khách hàng có tác động đáng kể đến việc lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản tiền gửi. Nhận thức có thể được hình thành trong quá khứ như uy tín thương hiệu ngân hàng, tác động của người thân, lãi suất, khuyến mãi, … Thời gian lựa chọn ngân hàng để gửi tiền tiết kiệm: khi bạn đã chọn ngân hàng để gửi tiền, các yếu tố sau ảnh hưởng đến khách hàng là yêu cầu dịch vụ từ ngân hàng và ngân hàng nào cam kết chuyển giao dịch. Nói cách khác, hành vi tiết kiệm của khách hàng nhạy cảm với yếu tố dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Trên thực tế, khách hàng mang tiền đến ngân hàng để gửi tiết kiệm hiếm khi được chuyển sang ngân hàng khác vì mức độ an toàn trong việc vận chuyển tiền.