Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình tồn tại và phát triển của con người. Sự phát triển bùng nổ về kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay đang đặt ra thách thức về BVMT, phòng tránh những tác động đến môi trường luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm và xem là một trong những chiến lược quan trọng. Bởi lẽ, môi trường bao gồm tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, đời sống con người.
Từ đó khẳng định: Môi trường là bạn tốt và đang rất cần chúng ta yêu mến, bảo vệ. Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu, xây dựng, hoàn thiện và áp dụng các quy định về BVMT trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng về cơ bản đã được thực hiện. Luật bảo vệ môi trường 2014 đã điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm về môi trường của các nhà nghiên cứu, pháp luật Việt Nam đã đưa ra một khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường một cách hoàn thiện phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Tạo nền tảng pháp lý cho các hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà là của toàn xã hội. Hoạt động BVMT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật. Mặc dù vậy, hiện nay khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn còn những cách hiểu khác nhau.
Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường, các cơ quan NN có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh. Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao. Thông qua hoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản trong hoạt động BVMT, xây dựng và phát triển bền vững.
Dựa trên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường như sau: Pháp luật bảo vệ môi trường là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai thác, sử dụng hoặc tác động đến môi trường. Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường. Pháp luật bảo vệ môi trường được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành. Trên cơ sở đó, pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau: Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên.
Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng. Là thành viên của Liên Hiệp Quốc, bên cạnh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc tuân thủ các Công ước về bảo vệ môi trường, Việt Nam cần có những quy định pháp luật riêng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật BVMT ở nước ta đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo tinh thần trên, tại khoản 3 Điều 6 Luật ký kết gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Việt Nam ghi nhận như sau: Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Trên cơ sở đó Việt Nam đã tuân thủ các quy định về BVMT của quốc tế, đồng thời xây dựng nên hệ thống pháp luật ở nước ta về vấn đề này.
Từ đó, tạo nên tính thống nhất của các quy phạm pháp luật BVMT.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó. Thứ hai, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta ra đời muộn hơn so với một số lĩnh vực pháp luật khác. Tuy rằng, khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường là tất yếu khách quan, cũng như yêu cầu luật hóa các công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 (Luật Bảo vệ môi trường năm 1993).
Sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có hiệu lực thi hành, hàng loạt các văn bản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưới luật, gồm: Pháp lệnh, Thông tư, Chỉ thị, các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường đã được ban hành và triển khai, trong đó nhiều văn bản nhấn mạnh vấn đề quản lý, giám sát chất thải bảo vệ môi trường. Có thể kể đến như: Nghị định số 175/CP, Nghị định số 20/CP, Quyết định số 153/2004/QĐ- TTg… và một loạt các Tiêu chuẩn Việt Nam được ra đời. Nếu so với các lĩnh vực pháp luật khách thì pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam ra đời muộn hơn hẳn. Nguyên nhân là do vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng và nhận định vai trò của nó trong mối quan hệ mật thiết với quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cũng như thực trạng yêu cầu cần thiết của hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay.
Vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến. Thứ ba, tuy rằng pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực luật pháp khác nhưng pháp luật về BVMT đã có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn. Cùng với sự quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền về chiến lược BVMT đã và đang được hoàn thiện trên cả hai phương diện: Lý luận và thực tiễn. Việt Nam đã đi đầu trong việc xử lý các hành vi vi phạm, cụ thể hóa vấn đề BVMT thành chiến lược phát triển quốc gia… khẳng định không đánh đổi môi trường để lấy kinh tế.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật BVMT cũng đứng trước những thách thức to lớn về bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời đại mới. Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung, vấn đề về môi trường nói riêng. Đặc biệt, pháp luật về BVMT ở nước ta có liên quan mật thiết đối với nhiều lĩnh vực pháp luật khác như dân sự, hình sự, kinh tế. Hoạt động bảo vệ môi trường nói chung với mục tiêu là bảo vệ môi trường sống không chỉ riêng với đất nước ta mà còn là toàn cầu.
Nhà nước với vai trò là chủ thể thay mặt nhân dân quản lý 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, do vậy phải ban hành các quy phạm pháp luật nhằm quản lý xã hội trong đó có vấn đề BVMT. Từ đó, cho thấy vai trò quan trọng của pháp luật BVMT không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn đối với toàn cầu trong giai đoạn hiện nay. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường được thể chế hoá thành pháp luật bảo vệ môi trường – trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Trên phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật bảo vệ môi trường có các vai trò sau: Một là, thông qua việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này.
Những quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường chính là cơ sở pháp lý cơ bản quy định về cơ cấu, tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Việc hình thành hệ thống cơ quan quản lý môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Thông qua việc quy định chức năng của mình, các cơ quan trên thực hiện hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những vi phạm đối với lĩnh vực mà mình quản lý.