phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đối với doanh nghiệp tại khu công nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đối với doanh nghiệp tại khu công nghiệp; Chƣơng 3: Nâng cao hiệu quả công tác xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đối với doanh nghiệp tại khu công nghiệp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÍ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về bảo vệ môi trƣờng tại khu công nghiệp 1.1 Khái niệm môi trường Khái niệm môi trƣờng đƣợc hiểu dƣới nhiều khía cạnh khác nhau. Hằng ngày, ngƣời ta hay dùng các khái niệm nhƣ môi trƣờng xã hội, môi trƣờng giáo dục, môi trƣờng làm việc, môi trƣờng văn hóa, môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng đất, môi trƣờng không khí….Từ điển Tiếng Việt định nghĩa môi trƣờng “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [44, tr 618].Với các hiểu nhƣ này, môi trƣờng đƣợc chia thành hai loại cơ bản: môi trƣờng vật chất tự nhiên và môi trƣờng nhân tạo có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của con ngƣời. Dƣới góc độ pháp lí, khái niệm môi trƣờng đƣợc hiểu nhƣ là mối quan hệ của con ngƣời và các yếu tố vật chất bao quanh.
Điều 1 Luật bảo vệ môi trƣờng đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa môi trƣờng “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Theo định nghĩa này, con ngƣời trở thành trung tâm của môi trƣờng. Môi trƣờng đƣợc tạo bởi vô số các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo. Các yếu tố vật chất tự nhiên nhƣ: đất, nƣớc, không khí, âm thanh, ánh sáng, các hệ động vật, thực vật, tài nguyên thiên nhiên…Những yếu tố này hình thành, tồn tại theo quy luật của tự nhiên không theo ý chí của con ngƣời.
Con ngƣời chỉ có thể tác động tới chúng trong phạm vi nhất định. Ngoài yếu tố vật chất tự nhiên, môi trƣờng còn gồm cả yếu tố vật chất nhân tạo nhƣ: đê điều, công trình thủy lợi, công trình 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ thuật, công trình xây dựng…Những yếu tố này do con ngƣời tạo ra trên cơ sở quy luật của tự nhiên để phục vụ cuộc sống của chính mình. Tóm lại, dƣới góc độ pháp lí, môi trƣờng đƣợc hiểu là những yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng đến sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật.2 Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp Trên thế giới đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, khu công nghiệp trở thành mô hình kinh tế quan trọng. Việc thành lập khu công nghiệp đã, đang là giải pháp để các quốc gia thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, phát triển kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam tính từ năm 1991 đến năm 2009, trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, cả nƣớc đã thành lập đƣợc 223 khu công nghiệp với tổng diện tích tự nhiên đạt 57.264 ha, phân bố trên 56/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. [1, tr4] Khái niệm khu công nghiệp đã đƣợc quy định trong một số văn bản pháp luật, chúng ta có thể kể tới hai văn bản tiểu biểu là Luật Đầu tƣ năm 2006 và Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. Hai văn bản này đều đƣa ra khái niệm khu công nghiệp, tuy ngôn ngữ có khác nhau nhƣng về nội dung là giống nhau. Liên quan đến việc tìm hiểu khái niệm khu công nghiệp, chúng ta cần quan tâm đến các khái niệm sau đây: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghip, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Khoản 20 Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2006) “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Khoản 20 Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2006) Khu công nghiệp, khu chế xuất đƣợc gọi chung là khu công nghiệp trừ trƣờng hợp có quy định cụ thể.
“Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2006) “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Khoản 23 Điều 3 Luật đầu tƣ năm 2006) Ngoài ra, hiện nay còn xuất hiện một số khái niệm mới chƣa đƣa chính thức vào văn bản pháp luật nào. Đó là: Cụm công nghiệp là một dạng của khu công nghiệp nhưng có quy mô nhỏ do chính quyền địa phương phê duyệt, cấp phép và quản lý. Điểm công nghiệp là một dạng công nghiệp tập trung mới xuất hiện gần đây do sự phát triển bùng phát của các làng nghề. Điểm công nghiệp có quy mô nhỏ từ vài chục ha trở xuống, được chính quyền địa phương phê duyệt và cấp phép.
Nhƣ vậy, với các khái niệm nêu trên ta có thể khái quát, khái niệm khu công nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp là là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Hiểu theo nghĩa rộng, khu công nghiệp bao gồm có: khu công nghiệp theo nghĩa hẹp, khu chế xuất, cụm công nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm khu công nghiệp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng. Những nghiên cứu về thực thi pháp luật xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đối với các doanh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp đƣợc đặt trong không gian là khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp.
Khu công nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, về không gian: khu vực này có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thƣờng không có cƣ dân sinh sống trong khu vực. Thƣờng các khu công nghiệp có những hàng rào làm mốc ranh giới phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc khu công nghiệp không chỉ tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế riêng và hƣởng nhiều ƣu đãi. Cơ sở vật chất kỹ thuật khu công nghiệp đƣợc xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh không phục vụ mục đích sống của dân cƣ, kể cả những ngƣời làm việc trong khu công nghiệp.
Thứ hai, về chức năng hoạt động: Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong khu công nghiệp, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này. Thứ ba, về thành lập: Khu công nghiệp không phải là khu vực đƣợc thành lập tự phát mà đƣợc thành lập theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt do Chính phủ định ra, trên cơ sở quy hoạch đã đƣợc phê duyệt. Khu chế xuất là loại hình khu công nghiệp đặc biệt.
Vì vậy, khu chế xuất mang đầy đủ những đặc điểm chung của khu công nghiệp nhƣng bên cạnh đó nó còn có những nét đặc trƣng riêng biệt: Thứ nhất, về tính chất ranh giới địa lý ngăn cách với vùng lãnh thổ còn lại của quốc gia. Đối với khu chế xuất, ranh giới địa lý không chỉ đơn thuần là sự xã định mốc giới phân biệt với các vùng lãnh thổ còn lại mà còn có ý nghĩa là hàng rào hải quan. Việc trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp chế xuất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các doanh nghiệp ở nƣớc ngoài hoặc với doanh nghiệp chế xuất khác thể hiện tính chất rõ thƣơng mại tự do: không thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, không phải thực hiện các thủ tục hải quan. Trao đổi hàng hóa giữa khu chế xuất với các vùng lãnh thổ còn lại của quốc gia đƣợc coi là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu và phải nộp thuế, thực hiện chế độ hải quan theo quy định hiện hành.
Thứ hai, về mục tiêu thị trƣờng. Doanh nghiệp thành lập và hoạt động trong khu chế xuất chủ yếu xuất khẩu hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ phục vụ cho xuất khẩu, hƣớng tới mục tiêu khai thác thị trƣờng khu vực và quốc tế.3 Khái niệm bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Dƣới góc độ pháp lí, khái niệm bảo vệ môi trƣờng đƣợc ghi nhận tại khoản 3, Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2005: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”. Do môi trƣờng rất rộng, bao gồm nhiều yếu tố và có tính thống nhất nên hoạt động bảo vệ môi trƣờng rất đa dạng, gồm nhiều hành vi khác nhau nhƣng gộp chung lại những hành vi đó thuộc hai nhóm cơ bản. Thứ nhất, những hành vi mang tính chất phòng ngừa ô nhiễm môi trƣờng.
Thứ hai, những hành vi mang tính chất khắc phục những hậu quả do con ngƣời và thiên nhiên gây ra cho môi trƣờng.