Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI VI PHẠM PHAP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. KHÁI NIỆM VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm và đặc trƣng của vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau nên thực tiễn cuộc sống còn nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, tình trạng đó gây thiệt hại lớn về vật chất và tinh thần cho xã hội và con người. Chính vì vậy nghiên cứu về vi phạm pháp luật để từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu phòng ngừa và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật là hết sức cần thiết.
Theo từ điển thuật ngữ luật học thì “Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”. Bởi vậy ta có thể hiểu vi phạm pháp luật là việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nào đó của các chủ thể khi tham gia một quan hệ pháp luật nào đó mà phát sinh quyền và lợi ích của các bên, phát sinh thiệt hại do một bên chủ thể thực hiện các hành vi gây hậu quả xấu cho bên còn lại mà các quyền lợi đó được pháp luật quy định. Dựa trên định nghĩa về vi phạm pháp luật, ta có thể đưa ra định nghĩa về vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội như sau: vi phạm pháp luật BHXH là một dạng vi phạm pháp luật, trong đó các chủ thể (chủ sử dụng lao động, người lao động…) trong quan hệ BHXH thực hiện các hành vi vi phạm, các hành vi trái với các quy định của Luật BHXH trong việc thực hiện chế độ chính sách ngắn hạn, dài hạn của người lao động. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các hành vi vi phạm được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật BHXH năm 2006 như sau: Các hành vi bị nghiêm cấm: 1.
Không đóng BHXH theo quy định của Luật này. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH 3. Sử dụng quỹ BHXH sai mục đích. Gây phiền hà, trở ngại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm xã hội [32]. Các chủ thể thực hiện bất kỳ hành vi nào theo quy định của điều luật trên đều là những hành vi vi phạm pháp luật BHXH. Theo định nghĩa trên về vi phạm pháp luật, một hành vi có bị coi là vi phạm pháp luật khi xác định đầy đủ các yếu tố về chủ thể, năng lực hành vi của chủ thể, dấu hiệu lỗi, dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật. Do vậy vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội cũng là một dạng của vi phạm pháp luật nên nó cũng bao gồm những đặc trưng như au: Thứ nhất: Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội phải là hành vi xác định của con người, là các xử sự thực tế; cụ thể là các cá nhân và tổ chức nhất định khi tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội.
Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi cụ thể của các chủ thể mới xác định các chủ thể này thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội, hành vi vi phạm pháp luật xác định này có thể thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Thứ hai: Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội phải là hành vi trái pháp luật là hành vi xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật về Bảo hiểm xã hội được thể hiện qua việc vi phạm các quy định về đóng Bảo hiểm xã hội, vi phạm các quy định về lập hồ sơ để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội… 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba: Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội phải là hành vi do chủ thể có năng lực chủ thể có năng lực pháp lý. Thứ tư: Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội phải là hành vi có lỗi của chủ thể khi tham gia quan hệ do pháp luật về Bảo hiểm xã hội quy định. Khi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật này thì chủ thể thực hiện nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời hiểu được hành vi của mình.
Thứ năm: Vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội xác nhận và bảo vệ. Tức là hành vi này làm biến đổi trạng thái bình thường của các quan hệ xã hội hay làm biến dạng xử sự là nội dung của quan hệ pháp luật đó. Cấu thành của vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội Cấu thành vi phạm pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng của một vi phạm pháp luật cụ thể. Mỗi vi phạm pháp luật sẽ có cấu thành riêng, tuy nhiên cấu thành của mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
Theo đó, cấu thành của vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội bao gồm: * Chủ thể vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội Chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật BHXH bao gồm: - Chủ sử dụng lao động - Người lao động - Cơ quan BHXH Các chủ thể này thực hiện hành vi do lỗi cố ý hay vô ý các hành vi trái với các quy định của pháp luật BHXH; gây thiệt hại cho bên thứ hai trong 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ BHXH hay bên thứ ba - Nhà nước thì đều cấu thành vi phạm pháp luật BHXH. * Chủ sử dụng lao động Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 thì "Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ". Người sử dụng lao động là cá nhân cụ thể phải có năng lực hành vi đầy đủ hoặc người sử dụng lao động đại diện cho doanh nghiệp, là một bên trong quan hệ pháp luật BHXH; ký kết hợp đồng lao động với người lao động, quản lý lao động, thực hiện các quy định pháp luật về BHXH. Vậy người sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH là người thực hiện các hành vi sai phạm sau đây: + Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền BHXH hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để cùng đóng một lúc vào quỹ BHXH.
+ Không bảo quản số tiền BHXH của người lao động trong thời gian người lao động làm việc; + Không trả sổ BHXH cho người lao động khi người lao động không còn làm việc; + Không lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH; + Không giới thiệu người lao động bị suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa theo khi họ đủ điều kiện để giám định khả năng lao động trước khi nghỉ hưu; + Không cung cấp tài liệu, thông tin có liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Không cung cấp thông tin về việc đóng BHXH của người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu. + Không tham gia bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho người lao động trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định trên trong việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động củ chủ sử dụng lao động đều là cấu thành của vi phạm pháp luật về BHXH. * Người lao động Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 thì "Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động" [33].
Như vậy, trong quan hệ lao động các cá nhân có đủ độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể tự nguyện tham gia vào quan hệ lao động. Khi tham gia vào quan hệ này thì các cá nhân được hưởng các quyền lợi về lương, về điều kiện lao động…đồng thời cũng chịu sự quản lý và điều hành của chủ sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc vi phạm các quy định của pháp luật BHXH không chỉ ở người sử dụng lao động mà còn ở cả người lao động như: + Không đóng hoặc đóng BHXH không đầy đủ; + Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về việc lập hồ sơ BHXH; + Không bảo quản sổ BHXH theo quy định; Như vậy, nếu người lao động vi phạm các quy định về pháp luật BHXH bằng hình thức thực hiện hoặc không hiện đều cấu thành vi phạm pháp luật BHXH. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Cơ quan bảo hiểm xã hội Cơ quan BHXH là hệ thống được thiết lập theo hệ thống ngành dọc nhằm thực hiện các chính sách BHXH từ trung ương đến địa phương như: chính sách về BHXH, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở phối hợp với Bộ lao động thương binh xã hội (trung ương); Sở lao động thương binh xã hội (ở địa phương) và trung tâm giới thiệu việc làm các cấp trong việc quản lý người lao động bị thất nghiệp.
Tuy nhiên, trong qua trình thực hiện chế độ chính sách, hệ thống các cơ quan này cũng có những tồn tại trong việc thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ chế độ chính sách về BHXH như: + Thực hiện thu BHXH chưa đúng quy định; + Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH chưa đúng quy định; + Quản lý và sử dụng quỹ BHXH chưa đúng quy định; + Giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa kịp thời, không đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi tham gia BHXH. Các cơ quan thuộc hệ thống BHXH Việt Nam không quản lý hoặc quản lý chưa chặt chẽ các nguồn quỹ BHXH,BHYT,BHTN gây thất thoát, thực hiện các nghiệp vụ trái với quy định của pháp luật BHXH thì cũng cấu thành vi phạm pháp luật BHXH.