Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống an sinh xã hội đóng vai trò là trụ cột an toàn thiết yếu đối với lực lượng lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính đến năm 2013, dân số Việt Nam đã vượt ngưỡng 90 triệu người với khoảng 53 triệu người trong độ tuổi lao động, tuy nhiên số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên toàn quốc chỉ đạt 170.600 người, chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 0,32% tổng lực lượng lao động. Tại thành phố Đà Nẵng, một trung tâm kinh tế năng động của khu vực miền Trung với 520.400 người trong độ tuổi lao động và 483.731 người có việc làm, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2013 chỉ đạt vỏn vẹn 631 người. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là khoảng cách chênh lệch sâu sắc giữa tiềm năng lực lượng lao động phi chính thức và tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên thực tế, xuất phát từ những bất cập trong quy định pháp luật và rào cản tổ chức thực thi tại địa phương.

Mục tiêu của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận pháp lý về bảo hiểm xã hội tự nguyện, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và thực tiễn triển khai tại 7 quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc trong việc cung cấp luận cứ hoàn thiện thể chế, tạo đòn bẩy bảo vệ quyền hưởng chế độ hưu trí và tử tuất cho hơn 480.000 lao động tự do tại địa bàn thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng Lý thuyết an sinh xã hội theo Công ước số 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Lý thuyết phân phối lại thu nhập quốc dân trong nền kinh tế thị trường. Mô hình nghiên cứu an sinh xã hội được cấu trúc dựa trên cơ chế tương hỗ ba bên gồm Nhà nước, Người sử dụng lao động và Người lao động, vận hành theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro lấy số đông bù số ít và bảo toàn quỹ tài chính độc lập.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: bảo hiểm xã hội tự nguyện với tư cách là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức cho phép người lao động tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng; quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện là quỹ tiền tệ tập trung hạch toán độc lập; và quyền an sinh xã hội thể hiện qua hai chế độ hưởng dài hạn là hưu trí và tử tuất. Theo khung pháp lý của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, mức đóng được quy định bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn, dao động trong biên độ từ 1 lần mức lương tối thiểu chung đến tối đa không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và chuỗi số liệu thống kê thứ cấp chính thức từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng cùng Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 6 năm từ năm 2008 đến năm 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 631 trường hợp tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thực tế và hệ thống hồ sơ quản lý thu chi tại 7 quận, huyện trực thuộc Đà Nẵng.

Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo đơn vị hành chính đô thị và nông thôn kết hợp khảo sát toàn diện đối tượng thụ hưởng chế độ. Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phân tích chuẩn tắc quy phạm pháp luật, thống kê so sánh tỷ lệ phần trăm, quy nạp và diễn giải logic. Lý do lựa chọn kết hợp các phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác mức độ tương thích giữa quy chuẩn pháp lý và kết quả thực thi, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn khiến tỷ lệ bao phủ chưa đạt 1% mục tiêu kế hoạch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất khiêm tốn và tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Trên phạm vi toàn quốc, số người tham gia tăng từ 6.110 người năm 2008 lên 139.643 người năm 2012 và đạt 170.600 người năm 2013, tương đương mức tăng trưởng 22% sau 1 năm. Tuy nhiên, tại thành phố Đà Nẵng, số người tham gia năm 2013 chỉ đạt 631 người, chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 0,13% trên tổng số 483.731 lao động có việc làm của toàn địa bàn.

Thứ hai, cơ cấu gói quyền lợi bảo hiểm còn đơn điệu khi chỉ cung cấp 2 chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất, hoàn toàn thiếu vắng 5 chế độ ngắn hạn thiết thực gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp.

Thứ ba, quy định thời gian đóng tối thiểu 20 năm để được hưởng mức lương hưu 45% là rào cản quá lớn đối với lao động phi chính thức. Trong bối cảnh tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đạt 73 tuổi, điều kiện bắt buộc nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi kèm 20 năm đóng phí khiến những người lao động tự do bước vào độ tuổi từ 40 đến 45 tuổi khó có cơ hội tích lũy đủ thời gian hưởng lương hưu.

Thứ tư, công tác tổ chức thực hiện và mạng lưới đại lý thu tại cơ sở còn phân tán, quy trình kê khai theo Mẫu số 14-HSB và các thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp một lần chưa được tinh gọn hóa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ tham gia thấp tại Đà Nẵng bắt nguồn từ nguyên nhân thu nhập của lao động tự do bấp bênh, trong khi tỷ lệ đóng 22% thu nhập hàng tháng tạo áp lực tài chính lớn khi chưa có cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Khánh năm 2010 và tác giả Hoàng Quốc Đạt năm 2012 khi cùng khẳng định tính kém hấp dẫn của bảo hiểm tự nguyện so với bảo hiểm bắt buộc.

Về mặt biểu diễn trực quan, các dữ liệu thực chứng trong luận văn có thể được mô hình hóa hiệu quả qua Biểu đồ cột biểu thị tốc độ tăng trưởng số lượng người tham gia giai đoạn 2008–2013 kết hợp Bảng ma trận so sánh quyền lợi giữa tỷ lệ đóng 22% và tỷ lệ hưởng lương hưu 45% đến 75%. So sánh với kinh nghiệm quốc tế như Cộng hòa Liên bang Đức (tuổi hưu từ 65 đến 67 tuổi) hay Pháp (tuổi hưu từ 60 đến 62 tuổi), pháp luật Việt Nam cần xây dựng cơ chế đóng một lần cho những năm còn thiếu để bảo đảm an sinh thực chất cho người cao tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp luật và đa dạng hóa gói quyền lợi an sinh: Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sớm sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng giảm số năm đóng bảo hiểm tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm để hưởng lương hưu; bổ sung quy định cho phép người lao động đóng một lần cho tối đa 5 năm còn thiếu khi đã đến tuổi nghỉ hưu (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi). Target metric là nâng tỷ lệ người đủ điều kiện nhận lương hưu lên thêm 30% trong giai đoạn 2016–2020.

Thứ hai, thiết lập cơ chế tài trợ phí đóng trực tiếp từ ngân sách địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cần ban hành nghị quyết hỗ trợ 30% mức đóng cho người thuộc hộ nghèo và 15% cho người thuộc hộ cận nghèo khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Timeline thực hiện bắt đầu từ quý 1 năm 2016 nhằm đạt mục tiêu thu hút 3.000 người tham gia vào năm 2018.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới đại lý thu và cải cách thủ tục hành chính: Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng cần ký kết ủy quyền thu bảo hiểm với mạng lưới bưu điện, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ tại 100% xã, phường; đồng thời rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ hưởng chế độ từ 15 ngày xuống dưới 7 ngày làm việc.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ an sinh: Tổ chức định kỳ mỗi năm 2 đợt đào tạo chuyên sâu về kỹ năng truyền thông chính sách cho 100% cán bộ đại lý thu và chuyên viên bảo hiểm tại 7 quận, huyện, hoàn thành việc số hóa dữ liệu quản lý thu chi trước năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội có thể sử dụng các luận cứ thực tiễn từ 631 trường hợp tại Đà Nẵng để hoàn thiện các dự thảo sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội và xây dựng chính sách trợ cấp ngân sách.

Thứ hai, cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp tại các địa phương: Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng và các cơ quan bảo hiểm khu vực miền Trung áp dụng các giải pháp mở rộng mạng lưới đại lý thu tại 100% xã, phường và tối ưu hóa quy trình chi trả chế độ hưu trí, tử tuất.

Thứ ba, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Luật Kinh tế: Sử dụng luận văn như một công trình tài liệu tham khảo chuyên sâu về khung lý thuyết an sinh, nguyên tắc đóng 22% và phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa luật học với phân tích số liệu kinh tế - xã hội.

Thứ tư, các tổ chức đoàn thể xã hội và người lao động tự do: Các cấp Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và hơn 480.000 lao động khu vực phi chính thức tìm hiểu quyền lợi pháp lý, công thức tính tỷ lệ hưởng lương hưu từ 45% đến 75% để chủ động tham gia bảo vệ an sinh cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

Đối tượng nào được quyền tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện?

Theo khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, đều có quyền tham gia. Nhóm này bao gồm nông dân, tiểu thương buôn bán nhỏ, lao động tự do và lao động làm việc theo hợp đồng dưới 3 tháng tại 7 quận, huyện.

Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng được xác định ra sao?

Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn. Thu nhập làm căn cứ đóng thấp nhất bằng 1 lần mức lương tối thiểu chung và tối đa bằng 20 lần mức lương tối thiểu chung, tạo điều kiện cho người lao động linh hoạt lựa chọn mức đóng phù hợp với thu nhập thực tế.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng những quyền lợi gì?

Người tham gia được hưởng 2 chế độ dài hạn gồm hưu trí và tử tuất. Khi tích lũy đủ 20 năm đóng bảo hiểm và đạt 60 tuổi đối với nam hoặc 55 tuổi đối với nữ, người tham gia sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng với tỷ lệ từ 45% đến tối đa 75% mức bình quân thu nhập đóng bảo hiểm.

Chế độ trợ cấp mai táng của bảo hiểm xã hội tự nguyện được chi trả như thế nào?

Theo Điều 21 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, người lo mai táng sẽ được nhận khoản trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung nếu người tham gia có đủ 5 năm đóng bảo hiểm trở lên hoặc đang hưởng lương hưu. Nếu đóng dưới 5 năm, thân nhân sẽ nhận trợ cấp tuất một lần tính theo số năm thực đóng.

Quá trình đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện có được cộng dồn không?

Pháp luật quy định cơ chế liên thông hoàn chỉnh giữa hai hình thức bảo hiểm. Toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện đều được cộng dồn để xác định điều kiện và mức hưởng lương hưu hoặc chế độ tử tuất theo Thông tư liên tịch số 39/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện, khẳng định vị trí trụ cột an sinh xã hội trong việc bảo vệ lao động phi chính thức.
  • Khảo sát và phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn 6 năm triển khai tại thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2008–2014) với số lượng tham gia khiêm tốn chỉ 631 người trên tổng số hơn 480.000 lao động có việc làm.
  • Chỉ rõ 3 nút thắt pháp lý cốt lõi gồm tỷ lệ đóng 22% còn cao, thời gian đóng tối thiểu 20 năm quá dài và việc thiếu vắng các gói bảo hiểm ngắn hạn linh hoạt.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao giai đoạn 2016–2020 nhằm giảm thời gian đóng xuống 15 năm, hỗ trợ 15% đến 30% mức đóng từ ngân sách và mở rộng đại lý tại 100% xã, phường.
  • Kêu gọi các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng người lao động tích cực phối hợp hoàn thiện thể chế, đưa bảo hiểm xã hội tự nguyện trở thành chỗ dựa an sinh vững chắc cho mọi người dân.