phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thu BHXH bắt buộc 1.
Khái niệm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội bắt buộc Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con ngƣời vƣợt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động. BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, đƣợc thực hiện ở hầu hết các nƣớc trên thế giới và ngày càng phát triển. Theo công ƣớc 102 ngày 04/6/1952 của tổ chức lao động quốc tế ILO khái niệm về BHXH nhƣ sau: “Bảo hiểm xã hội là thuật chia sẻ rủi ro và tài chính làm cho BHXH đạt hiệu quả và trở thành một hiện thực ở tất cả các nƣớc trên thế giới”.[17] Ở Việt Nam, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX. Thuật ngữ BHXH đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau song đều xem xét BHXH trƣớc hết là một hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có sự bảo hộ của Nhà nƣớc, chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho NLĐ và an toàn xã hội. Theo góc độ tài chính, BHXH là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của nhà nƣớc để san sẻ rủi ro , đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trƣờng hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. Theo góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những ngƣời lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ. Theo góc độ xã hội, BHXH đƣợc hiểu nhƣ một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất.
Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lƣợng lao động xã hội, lực lƣợng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự an toàn xã hội. 7 Khái niệm về BHXH đƣợc khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH đó là “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” Luật BHXH, 2014. [15] Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Căn cứ vào loại hình BHXH của ngƣời tham gia BHXH có thể chia BHXH thành BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.” Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH (2014) thì BHXH bắt buộc đƣợc định nghĩa: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”.
Đối tượng bảo hiểm xã hội Thực hiện quy định của Luật BHXH và các văn bản hƣớng dẫn về thực hiện Luật BHXH, Đối tƣợng tham gia BHXH đƣợc xác định cụ thể tại Điều 2 Luật BHXH 2014 [15] trong đó bao gồm ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động nhƣ sau: - Người sử dụng lao động: Ngƣời sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bao gồm: - Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; - Cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; - Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; - Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật; - Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã; - Cơ quan, tổ chức nƣớc ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là ngƣời Việt Nam; trừ trƣờng hợp Điều ƣớc quốc tế mà nƣớc CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. 8 - Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mƣớn, sử dụng và trả công cho ngƣời lao động. Người lao động tham gia BHXH bắt buộc: - Ngƣời làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; - Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; ngƣời làm công tác cơ yếu hƣởng lƣơng nhƣ đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; - Ngƣời làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài mà trƣớc đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. - Các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện: Là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc.Các loại hình bảo hiểm xã hội Theo Công ƣớc 102 của ILO (1952), có 9 loại hình BHXH bao gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tử tuất (trợ cấp mất ngƣời nuôi dƣỡng).
[17] Công ƣớc của ILO (1952) cũng nêu rõ: Những nƣớc phê chuẩn công ƣớc này phải áp dụng tối thiểu 3 chế độ, trong đó phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thƣờng cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của ngƣời lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lý có thể đáp ứng. [17] 9 Việt Nam tuy chƣa phê chuẩn Công ƣớc 102 nói trên, nhƣng thực tế đã lần lƣợt áp dụng hầu hết các chế độ quy định trong Công ƣớc. Theo Khoản 1, Điều 4 Luật BHXH năm 2014 quy định các chế độ của BHXH bắt buộc bao gồm: Chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hƣu trí và chế độ tử tuất.
Theo Khoản 2, Điều 4 Luật BHXH năm 2014 quy định các chế độ của BHXH tự nguyện bao gồm: Chế độ hƣu trí và chế độ tử tuất. Thu BHXH bắt buộc - Khái niệm thu BHXH bắt buộc: Khi nói đến thu BHXH là nói đến một loạt quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động và cơ quan BHXH. Trong mối quan hệ trên đây, thì ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động là đối tƣợng quản lý; Nhà nƣớc giao cho cơ quan BHXH chủ thể quản lý; Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất điều tiết và quản lý BHXH, vì các bên tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái ngƣợc nhau (ngƣời lao động muốn đóng ít nhƣng lại muốn đƣợc hƣởng thụ quyền lợi nhiều, ngƣời sử dụng lao động muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận). Nhà nƣớc với hai tƣ cách: Một là, thông qua cơ quan lập pháp (Quốc hội) đề ra Luật BHXH, thông qua Chính phủ đề ra các quy định về BHXH; Hai là, thông qua các cơ quan Nhà nƣớc để thực hiện nộp BHXH cho ngƣời lao động hƣởng lƣơng từ Ngân sách Nhà nƣớc và thành lập cơ quan chuyên trách (BHXH Việt Nam) thực hiện chính sách BHXH.
Để thực hiện thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nƣớc, cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với các đơn vị liên quan và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ƣơng đến cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín. Nhƣ vậy, trong hoạt động thu BHXH, mối quan hệ ba bên là ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và cơ quan BHXH đƣợc xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật về BHXH quy định, các quy định này là những căn cứ pháp lý mà mỗi bên phải tuân thủ, thực hiện nghiêm túc. Mặt khác để thu đúng, đủ, kịp thời, không để thất thoát tiền thu, đòi hỏi cơ quan BHXH phải có phƣơng pháp và biện pháp hữu hiệu, kể các các biện pháp hỗ trợ. "Thu BHXH là một 10 khái niệm phức hợp, bao gồm các định hƣớng, chủ trƣơng, phƣơng pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội" và "Quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tƣợng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt đƣợc mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phƣơng pháp nhất định".
Từ phân tích trên, thu BHXH bắt buộc đƣợc hiểu nhƣ sau: Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tƣợng đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tƣợng đƣợc tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm chi trả cho các hoạt động của BHXH.