CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái niệm, bản chất, vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, bản chất của bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động.
BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển. Theo công ước 102 ngày 04/6/1952 của tổ chức lao động quốc tế ILO có khái niệm về BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là thuật chia sẻ rủi ro và tài chính làm cho BHXH đạt hiệu quả và trở thành một hiện thực ở tất cả các nước trên thế giới”. Ở Việt Nam, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX. Thuật ngữ BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH. Cụ thể: Theo Giáo trình Kinh tế bảo hiểm của Đại học Kinh tế quốc dân: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH”. Trong từ điển bách khoa Việt Nam tập 1: “Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. 9 Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
Hiện nay, tại Việt Nam có hai loại hình BHXH: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NSDLĐ và NLĐ phải tham gia.Tại khoản 2 Điều 3 Luật BHXH (2014) thì BHXH bắt buộc được định nghĩa: “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”. BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Ngày nay, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau song đều xem xét BHXH trước hết là một hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có sự bảo hộ của Nhà nước, chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho NLĐ và an toàn xã hội. Bản chất của bảo hiểm xã hội Thực chất BHXH là sự đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung hình thành do sự đóng góp cuả các bên tham gia nhằm đảm bảo an toàn xã hội. Như vậy bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung sau: Thứ nhất: BHXH là nhu cầu khách quan.
Qua nhiệm vụ và vai trò của BHXH, ta cũng đã thấy được BHXH quan trọng như thế nào đối với cuộc sống. Nó không những là nhu cầu khách quan của NLĐ mà nó còn là nhu cầu khách quan của xã hội. 10 Thứ hai: BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian. Các rủi ro là ngẫu nhiên trong cuộc sống theo thời gian và không gian nên cũng có thể nói việc chi trả các chế độ BHXH cũng là ngẫu nhiên (trừ trường hợp tuổi già), vì vậy có thể coi BHXH là ngẫu nhiên.
Thứ ba: BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và có tính chính trị, pháp lý. - Về phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm ASXH. - Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ chung. - Về phương diện chính trị, pháp lý: Khi được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế.
Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH. Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo ASXH của các quốc gia. Tóm lại, chính sách BHXH gắn liền với một thể chế chính trị nhất định và phải dựa trên nền tảng kinh tế cụ thể. Một đất nước muốn có hệ thống BHXH hoạt động hiệu quả thì phải có một nền kinh tế đủ mạnh và một nền chính trị ổn định, tiến bộ.
Vì vậy, việc tổ chức và vận hành hệ thống BHXH phải dựa trên quan điểm toàn diện, tổng thể. Vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Đối với người lao động Mục đích chủ yếu của BHXH là bảo đảm thu nhập cho NLĐ và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập. Vì vậy, BHXH có vai trò rất lớn đối với NLĐ, đó là điều kiện cho NLĐ được cộng đồng tương trợ khi ốm đau, tai nạn, thai sản… Đồng thời, BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn 11 của các thành viên khác.
Từ đó, các rủi ro trong lao động sản xuất (tai nạn, thất nghiệp…) và trong đời sống NLĐ (ốm đau, tuổi già…) được khống chế, khắc phục hậu quả ở mức độ cần thiết. Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả, mất sức lao động… góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và cho gia đình. Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, làm cho họ ổn định về tâm lý, giảm bớt lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già… NLĐ tham gia BHXH được đảm bảo về thu nhập ổn định ở mức độ cần thiết nên thường có tâm lý yên tâm, tự tin trong cuộc sống. Nhờ có BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ em, những người tàn tật.
cũng được đảm bảo an toàn. Tham gia BHXH, NLĐ sẽ có cảm giác yên tâm hơn trong cuộc sống lao động, làm việc hết sức mình để nâng cao năng suất lao động. Đối với người sử dụng lao động BHXH giúp cho các tổ chức SDLĐ, các doanh nghiệp ổn định hoạt động thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Nếu không có BHXH, khi NLĐ ốm đau, tai nạn không có nguồn thu nhập, không có chi phí thuốc men… đời sống của họ bị ảnh hưởng thì quan hệ lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng theo.
BHXH góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất, kinh doanh được hoạt động liên tục, hiệu quả, các bên của quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn. Nếu không có BHXH, NSDLĐ sẽ trả tiền BHXH cùng tiền lương hàng tháng cho NLĐ để họ tự quản và sử dụng nguồn tiền vào các mục đích khác nhau, không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như mong đợi. 12 Mặt khác, BHXH tạo điều kiện để người SDLĐ có trách nhiệm với NLĐ trong suốt cuộc đời NLĐ cho những đóng góp của họ đối với doanh nghiệp, làm cho quan hệ lao động giữ chủ SDLĐ với NLĐ có tính nhân văn sâu sắc hơn. Đối với xã hội BHXH có tác dụng đối với xã hội là tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, củng cố tình đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội.
Chính điều đó đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của BHXH. Mặc dù không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng BHXH là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả nhất cho việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội. BHXH còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Nếu kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém thì hệ thống BHXH cũng chậm phát triển ở mức tương ứng.
Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của NLĐ được nâng cao thì nhu cầu tham gia BHXH của họ càng lớn. Thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của Nhà nước cũng ngày càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý được nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH. Như vậy, vai trò của BHXH là rất lớn đối với NLĐ, NSDLĐ và toàn xã hội. Đối với Việt Nam hiện nay, với chức năng của mình, BHXH đang là một khâu trong thể thiếu trong việc góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế của đất nước.
Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm và vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm Quản lý là một chức năng lao động xã hội, bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động.