CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội 1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội trên thế giới Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới.
BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của quốc gia đó. Mầm mống của BHXH xuất hiện từ thế kỉ XIII tại Nam âu, tuy nhiên nó chỉ mang tính sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Thời gian từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, trong nghề nghiệp để bảo vệ lẫn nhau họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ ( năm 1973 ở Anh đã thành lập hội “ bằng hữu” để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp). Trong hệ thống ASXH, BHXH ra đời khá sớm.
Năm 1850, thủ tướng Bismack của nước Phổ (CHLB Đức) đã thiết lập hệ thống BHXH ở nước này, các quỹ ốm đau được thành lập (do hội tương tế quản lý) và công nhân bắt buộc phải đóng góp để để phòng giảm thu nhập khi ốm đau. Ban đầu chỉ có giới thợ tham gia và chỉ có bảo hiểm ốm đau, sau đó đã thu hút mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra đối với các trường hợp khác. Luật BHYT được ban hành vào năm 1883. Và năm 1884, ban hành luật bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp (TNLĐ & BNN) do hiệp hội giới chủ quản lý.
Năm 1889, chính phủ Đức ban hành thêm bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do chính quyền các bang quản lý. Đến thời điểm này, BHXH đã có bước phát triển mới: cơ chế đóng góp ba bên được thực hiện, không chỉ có NLĐ mà cả giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp. Mô hình này ở Đức đã lan dần ra châu Âu và đầu thế kỉ XX, sau đó sang các nước Mỹ La tinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỉ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê trong nửa cuối thế kỉ XX.
Như vậy song song với quá trình vi phát triển của xã hội, BHXH đã trở thành một trong những quyền cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên hợp quốc đã ghi: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãm các quyền về kinh tế của con người”. Tại kì họp thứ 35, Hội nghị toàn thể của ILO được Hội đồng quản trị của Văn phòng lao động quốc tế triệu tập tại Giơ – ne – vơ ngày 04/06/1952, sau khi quyết định chấp thuận một số đề nghị về các quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, ngày 28/06/1952, ILO đã thông qua công ước số 102 – công ước về an toàn xã hội (Quy phạm tối thiểu), đánh dâu một bước ngoặt quan trọng về BHXH trên thế giới. Nội dung của Công ước 102 về BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau: 1, Chế độ chăm sóc y tế 1, Chế độ trợ cấp ốm đau 3, Chế độ trợ cấp thất nghiệp 4, Chế độ trợ cấp tuổi già 5, Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp 6, Chế độ trợ cấp gia đình 7, Chế độ trợ cấp thai sản 8, Chế độ trợ cấp tàn tật 9, Chế độ trợ cấp tiền tuất Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử củ thể, các quốc gia khi triển khai BHXH có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải có ba chế độ, trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ (3), (4), (5), (8), (9).
Công ước 157 được thông qua ngày 21/06/1982 gọi là công ước về duy trì các quyền về an toàn xã hội, khẳng định 9 nhánh an toàn xã hội như trên. Sau đó vẫn còn một số công ước và khuyến nghị liên quan đến các chế độ BHXH nhưng nội dung chủ yếu vẫn là của công ước số 102. Theo ILO, BHXH có 9 chế độ, song không phải nước nào cũng thực hiện đầy đủ. Bởi vì điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước khác nhau, ngay trong một nước thì những điều kiện đó cũng đã khác nhau qua các thời kì nên việc thực hiện cả 9 vii chế độ trên là rất khó.
Vì vậy đến nay trên thế giới chỉ có 43 nước thực hiện được cả 9 chế độ BHXH, 92 nước chưa thực hiện được chế độ trợ cấp gia đình; 13 nước chưa thực hiện được 3 chế độ: Trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình và trợ cấp tai nạn lao động. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam Bảo hiểm xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1930. Đây là chế độ trợ cấp do chính quyền thuộc địa Pháp thực hiện đối với quân nhân và viên chức Việt Nam làm việc trong bộ máy hành chính và lực lượng vũ trang của chúng ở Đông Dương khi bị ốm đau, già yếu hoặc chết. Tuy nhiên, đối với công nhân Việt Nam, gần như chính quyền Pháp phủ nhận quyền lợi BHXH của họ.
Điển hình là công nhân Việt Nam làm việc trong các đồn điền, các nhà máy. bị ốm đau bệnh tật hay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh, mai táng. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản luật về BHXH như sắc lệnh 54/SL ngày 14/06/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức. Theo sắc lệnh này, trong quỹ hưu bổng, ngoài phần đóng góp của công chức theo quy định còn có phần trợ giúp của Nhà nước.
Sắc lệnh 76/SL ngày 20/05/1950 ấn định về các chế độ như chế độ hưu trí, thai sản, chế độ chăm sóc y tế, tai nạn và tử tuất đối với viên chức một cách củ thể hơn. Đối vơi khu vực sản xuất, thời gian đầu chưa thành lập quỹ nhưng cũng có sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 và sắc lệnh sửa đổi bổ sung như sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 ấn định củ thể các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (TNLĐ), hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, kinh tế nghèo nàn nên những chính sách BHXH thời kì này được thực hiện rất hạn chế. Sau khi hoà bình lập lại trên miền bắc, ngày 22/12/1961 Nhà nước ban hành Nghị định 218/CP của Chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức”, chính sách BHXH ban hành kèm theo Nghị định 218/CP, hệ thống chế độ BHXH ở Việt Nam bao gồm: 1, Chế độ trợ cấp ốm đau 2, Chế độ trợ cấp thai sản viii 3, Chế độ trợ cấp TNLĐ - BNN 4, Chế độ trợ cấp hưu trí 5, Chế độ trợ cấp mất sức lao động 6, Chế độ trợ cấp tử tuất Khi nền kinh tế thay đổi phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986, đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây.
Chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù hợp với cơ chế mới. Vì vậy ngày 22/06/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế. Thực tế cho thấy, chế độ trợ cấp mất sức lao động bộc lộ những điểm bất cập nên đã được loại bỏ và BHXH Việt Nam chỉ thực hiện 5 chế độ còn lại. Cùng lúc, BHYT Việt Nam ra đời theo Nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng bổ trưởng (Chính phủ) về việc ban hành điều lệ BHYT và triển khai trên toàn quốc.
Là một nhánh của BHXH tách ra nhưng BHYT vẫn mới mẻ đối với Việt Nam. Do vậy BHYT phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Hoạt động BHYT đã thể hiện được tác dụng thông qua việc chăm sóc, hồi phục sức khoẻ cho người dân và góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Sau đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, để phù hợp với cơ chế quản lý mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH tiếp tục được sửa đổi và bổ sung.
Điều này được thể hiện trong chương 12 của bộ luật Lao động được thông qua tại kì họp thứ 5 Quốc hội khoá IX ngày 23/06/1994. Dựa trên bộ luật Lao động ngày 26/01/1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP. Tiếp theo ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập hệ thống BHXH Việt Nam và Nghị định 45/CP ngày 15/07/1995 cho các đối tượng hưởng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang. BHXH Việt Nam lúc này thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cũng như tổ chức quản lý.
Để thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động BHXH, BHYT Việt Nam được sát nhập cùng BHXH Việt Nam theo Quyết định số 20/2002/QĐ/TTg ngày ix 24/01/2002 của Chính phủ. Như vậy, đến năm 2003, BHXH Việt Nam thực hiện thêm một chế độ chăm sóc y tế là 6 chế độ. Các văn bản pháp quy về BHXH được ban hành sửa đổi, bổ sung làm cho BHXH ngày càng được hoàn thiên, ví dụ như Nghị định của Chính phủ số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi bổ sung một số điều lệ của BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP; Nghị định của Chính phủ số 208/2004/NĐ- CP ngày 14/12/2004 và số 117/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 về việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH. Năm 2006, Luật BHXH được thông qua ngày 29/06/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007.
Đối với BHXH tự nguyện thực hiện từ ngày 01/01/2008 và bảo hiểm thất nghiệp thực hiện từ ngày 01/01/2009. Để cụ thể hoá luật BHXH, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một sô điều của luật BHXH về BHXH bắt buộc; quyết định số 41/2007/QĐ-TTg ngày 29/03/2007 về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. Như vậy BHXH Việt Nam trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đã có được một hành lang pháp lý vững chắc. Khái niệm, bản chất và chức năng, vai trò của bảo hiểm xã hội 1.