Chương I: Thực trạng quan lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tinh Phú Thọ giai đoạn 2018-2022. Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quan lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THUC TIEN VE QUAN LÝ THU BẢO HIEM XA HOI BAT BUOC 1. Giới thiệu về bảo hiểm xã hội 1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội s* Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội trên thé giới BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm cho đến nay BHXH đã được thực hiện ở tất các các nước trên thế giới.
BHXH là một trong những CSXH cơ bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn hóa, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của quốc gia đó. BHXH ra đời và phát triển là kết quả lâu dài và quyết liệt giữa giai cấp công nhân và tư bản. Nhờ vậy mà ngày nay tat cả các nước trên thế giới đề ghi nhận và cố gắng xây dựng cho nước mình một hệ thống BHXH phù hop. Sự ra đời và phát triển của BHXH thế giới được thé hiện qua các cột mốc sau: - Năm 1838, chế độ bảo hiểm TNLĐ - BNN lần đầu tiên ra đời ở nước Phổ (Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay).
Đây là một chế độ rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp cuộc sống của NLD và gia đình họ ngay khi NLD van còn đang trong quá trình lao động. Hiện nay, chế độ này được hau hết các nước trên thế giới ap dụng. - Năm 1850 và 1861, quỹ dùng dé trợ cấp 6m đau được thành lập ở Đức và Bi. Tiép đến năm 1883, nước Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH còn trước đó các chế độ và các loại quỹ chỉ hình thành một cách tự phát.
- Năm 1907, Bi và Thụy Si đã hình thành quỹ BHTN, sau đó hơn 10 năm cả hai nước này đã bắt đầu thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc đối với người lao động. - Năm 1935, ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về ASXH được ban hành (mà thực chất lúc này là BHXH). Trong đạo luật này đã quy định cụ thê về các chế độ: bảo hiểm tuổi gia tử tuất, thất nghiệp và bảo hiểm cho những NLD bị tàn tật. - Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ II (1941-1945) có hai sự kiện quan trọng liên quan đến BHXH đó là: + Nước Mỹ đã thông qua luật BHXH (Social Security Act).
+Ké hoạch Beveridge (1942) đã được chính phủ Bi thông qua dé chuẩn bị thành lập hệ thống BHXHở nước này. Sau Chiến tranh thế giới thứ II tổ chức Liên Hợp Quốc được thành lập và ngày 10/12/1949 đã thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền mà trong đó đã khang định mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng ASXH. Đặc biệt, ngày 25/6/1952, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thuộc Liên Hợp Quốc lần đầu tiên thông qua công ước số 102 về ASXH. Đây được coi là mốc son nổi bật nhất đánh dấu sự phát triển của BHXH thế giới.
Sau khi có công ước 102, hầu hết các nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đều xây dựng cho mình hệ thống BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với thé chế chính trị của nước mình. Và cũng sau khi có Công ước số 102, một loạt các Công ước khác được ILO khuyến cáo nhằm giúp các nước bồ sung, hoàn thiện và cụ thê hoá các vấn đề liên quan đến BHXH. Công ước 102 ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với cộng dong quốc tế trong suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua. Khang định rõ vai trò của ASXH nói chung và BHXH nói riêng trong đời song kinh tế - xã hội của mỗi nước.
Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên tat cả các nước đều nhiệt tình hưởng ứng và nhất trí tham gia phê chuẩn công ước này. Giúp các bên tham gia BHXH, nhất là NLD và NSDLD nâng cao được nhận thức của mình đối với chính sách BHXH, thấy rõ hơn đầy đủ hơn và đúng đắn hơn trách nhiệm và quyền lợi của mình phải đóng góp vào quỹ BHXH, phải thực hiện đúng các chế độ BHXH. Một khi đã có nhận thức đúng dan về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi thì đối tượng tham gia BHXH sẽ ngày càng được mở rộng, nguồn quỹ BHXH sẽ ngày càng lớn hơn và khả năng san sẻ rủi ro sẽ dễ dàng hơn. Day là cơ sở chủ yếu dé Chính phủ các nước xem xét, nghiên cứu ban hành bổ sung, hoàn thiện chính sách BHXH, xây dựng một hệ thống BHXH phù hợp.
Đồng thời, nó còn là tiêu chuẩn đánh giá tình hình thực hiện và trién khai BHXH của các nước trên thé giới. Tiêu chuẩn rõ nhất là xem xét một quốc gia nào đó đã và đang thực hiện được bao nhiêu chế độ BHXH trong mỗi chế độ sẽ thay rõ điều khoản nào đã cam kết thực hiện theo nghĩa vụ của công ước, điều khoản nào là ngoại lệ ngoài công ước và lý do ngoại lệ. Dựa vào những tiêu chuẩn đó, hằng năm các nước tham gia phê chuẩn công ước phải báo cáo về tình hình áp dụng công ước cho văn phòng ILO. Đây cũng là vấn đề mang tính quốc tế, do đó các khái niệm, thuật ngữ được giải thích rất cụ thể và thống nhất.
Điều này giúp Chính phủ các nước, NLĐ và NSDLD hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn các chế độ BHXH và dé dàng ban hành các chính sách liên đến BHXH. Thực tế đã chứng minh, sau khi có Công ước 102, hàng loạt nước trên thế giới đã căn cứ vào đó dé xây dựng cho mình hệ thống BHXH. Số lượng các chế độ BHXH cũng được thực hiện ngày càng nhiều hon. Chang hạn năm 1960 chỉ có 86 nước triển khai BHXH thì đến năm 1998 đã có 162 nước triển khai.
Hoặc năm 1987 chỉ có 127 nước thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất thì đến năm 2002 con số này đã là 149 nước. s* Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội tại Việt Nam Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm dang dan dan bắt kịp xu thé phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thé thiểu được của mình đối với nền kinh tế. Chúng ta có thé nhận thấy điều này khi theo doi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay.
BHXH bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1930. BHXH đã có nền móng dưới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công chức, viên chức (CCVC) Nhà nước là Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950. Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thê hiện trong Hiến pháp năm 1959.
Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận CCVC có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với CCVC Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Đây có thể coi là hai văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam quy định về chính sách BHXH. Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyền đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay déi tương ứng về CSXH nói chung và chính sách BHXH nói riêng.
Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: "Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động". Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi NLD và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện Đại hội Dang lần thứ VIII cũng đã nêu lên "Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế". Các Đại hội tiếp theo của Đảng cũng đều đề cập đến vấn đề BHXH và đã đưa các nội dung về ASXH vào trong các nghị quyết của Đảng.
Sơ lược lịch sử phát triển BHXH ở Việt Nam cho thấy, cả về tư duy va trong tô chức thực hiện, chính sách BHXH luôn được cải cách, được déi mới dé phủ hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của dat nước trong từng giai đoạn phát triển. Ngay trong Nghị quyết 28-NQ/TW nêu trên đã cũng đã khang định, chính sách BHXH đã từng bước khăng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống ASXH, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống. Các khái niệm có liền quan Khái niệm về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm xã hội. Cụ thé như sau: Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra một định nghĩa khác như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp cộng đồng ( bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) dé chéng lại tinh trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mắt hoặc giảm mat thu nhập gây ra bởi 6m dau, mat khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết.
Hơn nữa, bảo hiểm xã hội còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khỏe và trợ cấp cho các gia đình khi can thiết". Định nghĩa này phan ánh một cách tông quan về mục tiêu, ban chat và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cuối cùng của BHXH là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi người.