Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức kế toán tại Bảo hiểm xã hội tỉnh. Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam. Luan van 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH 1.
Tổng quan về cơ quan Bảo hiểm xã hội 1. Khái quát về cơ quan bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế 1. Khái quát cơ quan bảo hiểm xã hội BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam có tên giao dịch quốc tế tiếng Anh là Viet Nam Social Security, viết tắt là VSS.
BHXH Việt Nam là một tổ chức của Nhà nước nhằm sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung do sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động, NLĐ và có sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Khoản trợ cấp này giúp cho NLĐ và gia đình họ sống ổn định, điều này còn tác động đến cả ASXH. BHXH Việt Nam được thành lập từ năm 1995, theo Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ, trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Thực hiện tiến trình cải cách bộ máy của Chính phủ, ngày 24/2/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg về việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam, từ thời điểm này, ngoài việc đảm bảo thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHXH Việt Nam còn được giao Luan van 7 thêm nhiệm vụ thực hiện chế độ, chính sách BHYT cho các đối tượng tham gia và thụ hưởng.
Hiện nay, cơ quan BHXH có 13 đơn vị chuyên môn giúp việc Tổng Giám đốc; 8 đơn vị sự nghiệp trực thuộc; 63 BHXH tỉnh, thành phố và BHXH Bộ Công An, BHXH Bộ Quốc Phòng. Khái quát về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế - Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp Ở Việt Nam, chính sách BHXH ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước, như Sắc lệnh 27 năm 1947, Sắc lệnh 76, 77 năm 1950. Hiến pháp năm 1959, cơ sở pháp lý về BHXH được quy định rõ hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 218-CP ngày 27/12/1961 quy định một số nội dung cụ thể về chế độ đãi ngộ đối với công nhân viên chức.
Chính sách về BHXH ngày càng được ban hành đầy đủ, hoàn thiện hơn. Đến năm 2006, Quốc hội thông qua Luật BHXH đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa các quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước về BHXH. Chính sách BHXH đã phát huy tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ, tạo điều kiện để mọi NLĐ đều có thể tham gia BHXH. Với việc bổ sung thêm hình thức bảo hiểm tự nguyện, BHTN đã góp phần thực hiện ngày càng tốt hơn mục tiêu ASXH.
Tại Khoản 1, Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốc hội quy định “BHXH là sự bảo đảm một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết.trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội” [19]. Tại Khoản 4, Điều 3 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội quy định “BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của Luan van 8 NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN” [22]. - Bảo hiểm y tế Ở Việt Nam, chính sách BHYT đã được triển khai thực hiện từ năm 1992 bằng việc ban hành các nghị định của Chính phủ về thực hiện BHYT. Đến năm 2008, Luật BHYT đã được Quốc hội khóa XII thông qua.
BHYT toàn dân là chính sách xã hội quan trọng hàng đầu, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng, luôn đề cao trong hệ thống chính sách ASXH. Đây là một trong những chính sách ASXH quan trọng thể hiện tính nhân đạo, nhân văn và tinh thần tương thân tương ái, chia sẻ rủi ro giữa người khỏe với người ốm, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp. Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhằm hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, góp phần đảm bảo ASXH cho mọi người dân. Tại Khoản 1, Điều 1 Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT quy định “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [21].
Các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế * Căn cứ Điều 4 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốc hội quy định [19]: - BHXH bắt buộc: gồm các chế độ ốm đau; thai sản; hưu trí; tử tuất; tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp. - BHXH tự nguyện: gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất. * Căn cứ Điều 42 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội quy định, các chế độ BHTN: gồm các chế độ trợ cấp học nghề, trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm [22]. Luan van 9 * Căn cứ Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 của Quốc hội quy định, chế độ BHYT gồm KCB cho người tham gia BHYT.
Ý nghĩa và vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế * Ý nghĩa của chính sách BHXH, BHTN, BHYT BHXH, BHTN, BHYT là chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống ASXH phải được từng bước mở rộng, tăng nhanh đối tượng tham gia, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. BHXH, BHTN, BHYT ra đời, phát triển cùng với nền kinh tế thị trường và đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH, BHTN, BHYT được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH, BHTN, BHYT ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH, BHTN, BHYT đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội. * Vai trò của chính sách BHXH, BHTN, BHYT - Đối với người lao động: BHXH, BHXH, BHTN là chỗ dựa tâm lý giúp NLĐ yên tâm làm việc, góp phần ổn định thu nhập, ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp phải các rủi ro, biến cố như ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, sinh đẻ hay về già, thất nghiệp,… - Đối với xã hội: Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.
Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. NLĐ tham gia BHXH, BHTN, BHYT với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. NSDLĐ tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các Luan van 10 thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH, BHTN, BHYT Thứ hai: BHXH, BHTN, BHYT thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH, BHTN, BHYT tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”.
BHXH, BHTN, BHYT là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên. Thứ ba: BHXH, BHTN, BHYT thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Thứ tư: BHXH, BHTN, BHYT góp phần thực hiện bình đẳng xã hội, trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ. Trên giác độ kinh tế, BHXH, BHTN, BHYT là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng.
Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội.Như vậy, BHXH, BHTN, BHYT là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị. - Đối với nền kinh tế thị trường: Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt. Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội.