Chương 1.CƠ SỞ UẬN V THỰC TIỄN C NG T C U N THU B O HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc Dưới góc độ pháp lý thì “Bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn định đời sống cho người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động”.[23] Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy, BHXH bắt buộc là vấn đề của mỗi quốc gia. Từ cuối thế kỷ thứ XIX chính quyền nhiều bang ở Đức bắt tay với giới thợ thuyền lập quỹ ốm đau do chính những người thợ đóng góp bắt buộc để tương trợ cho những người bị ốm đau.
Đây là lần đầu tiên đánh dấu sự ra đời của loại hình BHXH bắt buộc. Người có công đầu trong việc xây dựng và ban hành pháp luật BHXH thuộc về Tể tướng Đức Bismac (Bismarck). Chính ông đã đưa ra quan điểm: “Bảo hiểm xã hội là sự tương trợ của cộng đồng đối với người lao động, trên cơ sở gắn liền với nghĩa vụ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và trách nhiệm của xã hội (tức là của Nhà nước)”. Năm 1883, đạo luật đầu tiên về BHXH ở Đức ban hành, nhằm trợ cấp cho NLĐ bị ốm đau.
Năm 1884 mở rộng thêm dạng trợ cấp rủi ro nghề nghiệp, sau này gọi là trợ cấp TNLĐ, BNN. Đến năm 1889 thì phát triển thêm dạng trợ cấp tuổi già và trợ cấp tàn tật. Pháp luật BHXH của Đức quy định việc tổ chức quản lý thực hiện BHXH gồm ba bên: đại diện NLĐ, đại diện người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Nhà nước. Cả ba bên đều có trách nhiệm đóng góp một phần vào quỹ BHXH và cùng quản lý.
Mọi người làm công ăn lương đều bắt buộc phải đóng góp BHXH, không phân biệt thợ lành nghề hay thợ phổ thông, thợ trẻ hay thợ già, thợ là nam hay nữ. Từ đây, NLĐ được bảo hộ về mặt pháp lý từ phía Nhà nước mỗi khi họ gặp rủi ro hay già yếu.[23] 5 van Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có pháp luật BHXH về BHXH bắt buộc. Mục đích của pháp luật BHXH bắt buộc ở các nước đều giống nhau là sự bảo vệ cho NLĐ khi gặp phải rủi ro, bất hạnh do bị ngừng hoặc giảm thu nhập thì được nhận trợ cấp để sinh sống. Phạm vi và đối tượng áp dụng của pháp luật BHXH bắt buộc được mở rộng dần.
Thông thường, các nước thực hiện BHXH cho công chức Nhà nước và quân đội trước, rồi đến công nhân các xí nghiệp do Nhà nước quản lý, sau đó đến người làm công ăn lương do tư nhân thuê mướn và mở rộng đến những dạng lao động khác. Các dạng trợ cấp cũng được bổ sung dần, nhằm che chắn toàn diện những “rủi ro” có thể xảy ra đối với NLĐ. Như trên đã nêu, đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới ở Đức mới chỉ thực hiện dạng trợ cấp ốm đau, sau đó các dạng trợ cấp TNLĐ, BNN, tàn tật (mất sức lao động), già yếu (hưu trí) mới lần lượt được quy định. Nước Nga là quốc gia đầu tiên quy định loại trợ cấp cho phụ nữ góa bụa và có con nhỏ (trợ cấp tiền tuất) khi công chức chết.
Sau đó, ở các nước khác cũng thực hiện loại trợ cấp này. Đến năm 1911, Vương quốc Anh là nước đầu tiên có luật về bảo hiểm thất nghiệp. Rồi một số nước khác ở Châu Âu, Canada và Hoa Kỳ cũng thực hiện trong thập kỷ 30. Đứng trước yêu cầu phát triển và hoàn thiện pháp luật về BHXH của nhiều nước và trước sự thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngày 28/6/1952, Tổ chức ILO đã thông qua Công ước số 102 về BHXH bao gồm 9 dạng trợ cấp.
Trong Công ước quan trọng này đã định ra một cơ cấu thống nhất và có phối hợp về BHXH giữa các nước thành viên của ILO. Tuy nhiên, Công ước cũng giành một số các lựa chọn có tính chất ngoại lệ cho việc vận dụng đối với những nước chưa phát triển về kinh tế và y tế trong một thời gian thích hợp. Như vậy, với quan niệm mở rộng dần các chế độ BHXH theo hướng tăng quyền lợi của NLĐ, các chế độ trợ cấp BHXH được phát triển dần từ một đến chín loại để khắc phục những rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có hệ thống pháp luật về BHXH.[23] Để thực hiện BHXH bắt buộc đối với số đông NLĐ, thì vấn đề mấu chốt là phải huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH và cần phải có kế hoạch cân đối 6 van việc thu và chi BHXH.
Lịch sử phát triển của pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước quy định ba nguồn đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc là NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước. Một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì quy định hai nguồn đóng góp là cơ quan, đơn vị và Nhà nước, còn NLĐ không phải đóng góp. Cá biệt có nước dùng tiền thu thuế để trợ cấp BHXH. Ngoài phần đóng góp của các chủ thể vào quỹ BHXH bắt buộc thì quỹ còn có khoản thu khác như lãi suất do dùng tiền BHXH để đầu tư.
Và trên hết, để thực hiện được mục đích của BHXH bắt buộc thì pháp luật của các nước đều quán triệt quan niệm phải tăng cường vai trò mọi mặt của Nhà nước đối với BHXH bắt buộc, mọi hoạt động liên quan đến BHXH bắt buộc do Nhà nước thống nhất quản lý. Vai trò của Nhà nước thể hiện trước hết ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành các quy định về BHXH bắt buộc, trực tiếp tổ chức ra bộ máy thực hiện BHXH và kiểm tra việc thực hiện BHXH bắt buộc. Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ phát triển của đất nước mà Nhà nước hoạch định chính sách quốc gia về BHXH bắt buộc. Với tư cách là người chủ sở hữu lớn nhất, Nhà nước có trách nhiệm đóng góp và hỗ trợ quỹ BHXH bắt buộc.
Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước còn áp dụng những biện pháp để bảo tồn và tăng trưởng giá trị của quỹ BHXH bắt buộc. Qua nghiên cứu các quan niệm pháp luật về BHXH bắt buộc có thể thấy, mặc dù BHXH bắt buộc phụ thuộc vào điều kiện và quan niệm của mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung BHXH bắt buộc là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống BHXH. Nếu có một chính sách đúng đắn thì BHXH đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định tình hình chính trị của đất nước và sự phát triển nền kinh tế quốc dân, ngược lại, nếu không có định hướng đúng thì nó sẽ tác động tiêu cực tới tình hình chính trị, kinh tế, sự tiến bộ xã hội. Nói chung, bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia[24].
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập cho người lao động (và một số trường hợp là thành viên gia đình) trong những trường hợp rủi ro nhất định. Việc đảm bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của 7 van các đối tượng nhất định nhằm tạo lập nguồn chi trả. Nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn có được tham gia hay không tham gia mà họ phải tham gia hình thức bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy định. Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù của loại hình bảo hiểm xã hội này.
Đối tượng của bảo hiểm xã hội bắt buộc Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: - Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; - Cán bộ, công chức, viên chức; - Công nhân quốc phòng, công nhân công an; - Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; - Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; - Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động. Chức năng của bảo hiểm xã hội bắt buộc - Thứ nhất, BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động. - Thứ hai, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
- Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân 8 van và năng suất lao động xã hội. Giúp người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, tích cực trong lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Giúp các nhà đầu tư yên tâm tính toán để phát triển sản xuất, không bị phá sản kể cả khi có rủi ro lớn sảy ra. Kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân, thu hút đầu tư và qua đó, nâng cao năng suất lao động xã hội.
- Thứ tư, BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gắn bó các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và các lợi ích xã hội. + Thu hút lao động tốt trong xã hội vào khu vực thuộc phạm vi bảo hiểm. Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung, khu vực Nhà nước luôn hấp dẫn người lao động.