CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.1 Tổng quan về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1.1 Khái niệm và đ c điểm củ bả hiểm *Khái niệm của bảo hiểm Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm." Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. *Đặc điểm của bảo hiểm Bảo hiểm là một loại dịch vụ tài chính đặc biệt + Chu trình kinh doanh bảo hiểm là chu trình đảo ngược là sản phẩm bán ra trước, doanh thu được thực hiện trước rồi mới phát sinh chi phí + Sản phẩm vô hình: là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro, chỉ có cam kết giữa nhà bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm, trong đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí, c n nhà bảo hiểm cam kết bồi thường khi có sự cố bảo hiểm xảy ra + Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn và không bồi hoàn Trong thời gian được bảo hiểm nếu không có rủi ro ảnh hưởng đến người mua bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm không được bồi thường.
Ngược lại bên bảo hiểm sẽ bồi 5 Luan van thường trong phạm vi bảo hiểm. Như vậy quan hệ giữa người bảo hiểm, người được bảo hiểm và người mua bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn + Số đông bù số ít + Chỉ bồi thường cho người gặp rủi ro + Thể hiện tính chất: xã hội, nhân đạo và cộng đồng + Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi 1.2 Khái niệm và phân l ại bả hiểm xã hội *Khái niệm bảo hiểm xã hội Ở Việt Nam, BHXH đã trải qua quá trình vài chục năm khá lâu và đã có nhiều thay đổi về chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề c n nhiều tranh luận vì được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau. Điều này cho thấy tính đa dạng và phong phú của BHXH.
Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH được đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt Luật BHXH được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất khi có Điều 3 Luật BHXH: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH". *Phân loại bảo hiểm xã hội Phân loại theo loại hình BHXH của người tham gia BHXH. - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.
(Khoản 2 điều 3 Luật bảo hiểm xã hội) - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.3 Khái niệm và đ c điểm củ bả hiểm xã hội bắt buộc *Khái niệm 6 Luan van Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Mặc dù là loại hình bắt buộc nhưng xét về bản chất nội hàm hai ý nghĩa: Một là, BHXH mang tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Hai là, BHXH là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của Nhà nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội.
*Đặc điểm của BHXH bắt buộc Hoạt động BHXH là hoạt động phân phối lại thu nhập của chính bản thân người lao động theo thời gian (phân phối theo chiều ngang) và của các thế hệ/nhóm người lao động (phân phối theo chiều dọc). Sự đền bù này để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng; nhằm góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Qua cách tiếp cận này, có thể thấy BHXH có một số đặc điểm cơ bản sau: + Người lao động khi tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập (bảo hiểm) cả trong và sau quá trình lao động. Khi c n làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi không c n làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí (ở Việt nam c n gọi là lương hưu), khi chết thì tiền mai táng phí và gia đình được hưởng trợ cấp tuất.
Đây là đặc trưng riêng có của BHXH thể hiện tính xã hội rất cao mà không một loại hình bảo hiểm nào có được. + Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của người lao động gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết. Tuy nhiên, trong BHXH, không phải người lao động cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được bù bấy nhiêu. Điều này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động được pháp luật BHXH quy định.
Đây là đặc trưng rất cơ bản của bảo hiểm xã hội. + Người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. 7 Luan van Người chủ sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn. + Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH.
Ngoài nguồn thu của quỹ BHXH, c n có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp/đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác. + Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định. Tất cả những khía cạnh đã nêu trên, một lần nữa cho thấy, BHXH được lập ra là để tác động vào thu nhập theo lao động của người lao động tham gia BHXH. Nói cách khác, BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm, nhằm bảo đảm thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho họ.2 Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1.1 Khái niệm v công tác quản lý thu bả hiểm xã hội bắt buộc Cũng như các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội khác, tổ chức BHXH muốn tồn tại và phát triển phải có một tài chính riêng để chi dùng cho công tác thực hiện chính sách, chế độ.
Do đó, thu BHXH là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của BHXH ở bất kì một quốc gia nào trên thế giới. Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động BHXH. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy hiệu quả thu BHXH nói chung và thu BHXH đối với hình thức bắt buộc nói riêng thường đạt được kết quả không cao.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần như Việt Nam hiện nay, lợi ích của các bên tham gia BHXH là khác nhau. Với chức năng quản lý, Nhà nước sẽ sử dụng quyền lực của mình xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu và quản lý thu BHXH. Để quản lý thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với các cơ quan hữu trách và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ương đến cấp huyện, thực 8 Luan van hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín. Như vậy, trong quản lý thu BHXH, mối quan hệ ba bên là NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật về BHXH quy định.