Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình thực nghiệm và Xây dựng các thang đo cho các biến được sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về bảo hiểm Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thi Bảo hiểm là sự thỏa thuận qua đó một bên (người cung cấp hay người bán bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm. (Atkinson, 1991) Theo Pascale & Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê” Hồ Sĩ Sà khái niệm: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba; Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp một khoản phí để hình thành quỹ dự trữ.
Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm” (Hồ Sĩ Sà, 2000) Tóm lại, Bảo hiểm là một thoả thuận tài chính trong đó bên bán có khả năng chi trả những rủi ra khi bên mua xảy ra, còn bên mua được quyền hưởng những bối thường của bên bảo hiểm khi rủi ro xảy ra.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.(Nhà xuất bản tài chính, 2007a) BHXH Theo Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành quy định: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghền ghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Theo công ước 102 (1952) thì BHXH có thể được hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.(Quốc hội, 2018a) BHXH là sự đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động và gia đình họ khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia và sự tài trợ của Nhà nước. Văn Định, 2008) BHXH là tất cả các khoản mà nó phải chi trả cho an sinh xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm tàn tật, bảo hiểm y tế, tai nạn lao động, …(Chetty & Finkelstein, 2013) BHXH là loại hình dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường, hoạt động không nhằm mục đích kiếm lời.
BHXH có vai trò kinh tế xã hội hết sức quan trọng vì nó hướng tới diện bảo vệ là người lao động, lực lượng quan trọng đang trực tiếp tạo ra 7 của cải vật chất cho xã hội. BHXH có tính cộng đồng, tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc và là trụ cột chính của hệ thống ASXH của mỗi nước (Phạm & Nguyễn, 2011) Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”.(Nhà xuất bản tài chính, 2007a) Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”. Tính “tự nguyện” được thể hiện ở chỗ người lao động tham gia hay không tham gia hoàn toàn do bản thân người đó quyết định, họ có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phu hợp với khả năng tài chính của bản thân và gia đình. (Nhà xuất bản tài chính, 2007b) Theo quy định tại Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2018 cũng có qui định về các loại bảo hiểm xã hội như sau: – BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
– BKXH TN là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. (Quốc hội, 2018a) Tham gia BHXH là vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển các quyền xã hội của công dân trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành xã hội hiện đại. chính sách phúc lợi. Pháp luật về bảo hiểm xã hội có xu hướng phát triển sớm hơn và với mức độ đầu tư công lớn hơn ở các quốc gia đã đạt được trình độ phát triển 8 kinh tế xã hội và huy động chính trị tương đối cao hơn vào thời điểm có ý tưởng đột phá về bảo hiểm xã hội do nhà nước tổ chức.3 Khái niệm về người lao động Người lao động Người lao động có nghĩa là một thể nhân trong một khoảng thời gian nhất định thực hiện các dịch vụ cho và dưới sự chỉ đạo của người khác để đổi lấy thù lao.
(Martin Risak and Thomas Dullinger, 2018) Theo nghĩa của luật EU người lao động không bị ảnh hưởng bởi thực tế là một người đã được thuê với tư cách là người tự làm chủ theo luật quốc gia, vì lý do thuế, hành chính hoặc tổ chức, miễn là người đó hành động theo đặc biệt là sự chỉ đạo của người sử dụng lao động của anh ta liên quan đến quyền tự do lựa chọn thời gian, địa điểm và nội dung công việc của anh ta, không chia sẻ rủi ro thương mại của người sử dụng lao động, và trong suốt thời gian của mối quan hệ đó, tạo thành một phần không thể tách rời của người sử dụng lao động đó cam kết, do đó hình thành một đơn vị kinh tế với cam kết đó.( Martin Risak and Thomas Dullinger, 2018) Người lao động tự do Lao động tự do là những người thuộc về khu vực kinh tế phi chính thức, là nhóm lao động có thu nhập thấp, làm việc không có hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 3 tháng nên không được tham gia các loại hình bảo hiểm và luôn đối diện với những nguy cơ về tai nạn, bệnh nghề nghiệp… Theo Storey và cộng sự (2005), Việc làm tự do thường liên quan đến các nhiệm vụ được yêu cầu trong một thời gian giới hạn. Công việc có xu hướng là những phần công việc riêng biệt và riêng biệt: nhiệm vụ chụp ảnh, ghi âm hoặc lồng tiếng cho một bộ phim tài liệu truyền hình, một trang web cần thiết kế và sản xuất, một hợp đồng để trang trải cho một nhân viên vắng mặt hoặc sản xuất. của một tạp chí bổ sung. Người làm việc tự do cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp và bộ kỹ năng bổ sung cho nguồn lực của nhà tuyển dụng trong một khoảng thời gian quy định.
Điều này 9 thường dành cho một khoảng thời gian tập trung, nhưng cũng có thể dành cho một khoảng thời gian thông thường trong một phần của tuần, tháng hoặc năm. Người lao động tự do là những giúp việc gia đình, người lao động theo yêu cầu, người lao động thời vụ, người lao động dựa trên chứng từ, người lao động trên nền tảng.4 Vai trò bảo hiểm xã hội BHXH và BHXH TN có những vai trò khác nhau thể hiện ở góc độ đối với người lao động và gia đình, và đối với xã hội bao gồm: Với cá nhân người lao động và gia đình Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình (Bùi Huy Nam, 2019a) Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già.(Bùi Huy Nam, 2019a) Với xã hội Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.
Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái.