Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM CHƯA HOÀN THÀNH TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của tội phạm chưa hoàn thành 1. Khái niệm tội phạm chưa hoàn thành Nhìn chung pháp luật hình sự trên thế giới và tại Việt Nam đa phần đều phân biệt các giai đoạn thực hiện tội phạm, nhằm đánh giá mức độ thực hiện tội phạm ở các giai đoạn khác nhau và qua đó có cơ sở xác định phạm vi trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Cụ thể, các giai đoạn phạm tội là những mức độ trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Các giai đoạn phạm tội này ngắn hay kéo dài tùy thuộc vào quá trình của hành vi phạm tội và người phạm tội thực hiện trên thực tế. Việc phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự thể hiện ý chí chủ quan của các nhà làm luật đối với diễn biến khách quan của hành vi phạm tội xảy ra trong thực tế [4, tr. Tuy nhiên, có ba điểm khác nhau cơ bản giữa các giai đoạn phạm tội chính là ở những yếu tố khách quan của hành vi phạm tội bao gồm: 1) Tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội; 2) Mức độ thực hiện ý định phạm tội của chủ thể thực hiện hành vi; 3) Thời điểm chấm dứt của những hành vi đó [9, tr. Trong thực tế, quá trình thực hiện việc phạm tội của tội phạm trong nhiều trường hợp người phạm tội phải tiến hành từng bước, từng bước một để hoàn thành tội phạm (như: hình thành ý định và biểu lộ ý định phạm tội, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, chuẩn bị thực hiện hành vi liền kề và dần thực hiện hành vi phạm tội).
Tuy vậy, về phương diện chủ quan có sự đối lập thể hiện ở chỗ: mặc dù hành vi phạm tội bị dừng lại nhưng người phạm tội đã cố ý thực hiện hành vi đó và vẫn muốn thực hiện tiếp hành vi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội của mình, vì trong tư tưởng, suy nghĩ của họ bao giờ cũng mong muốn thực hiện toàn bộ quá trình đó để đạt được kết quả như dự định đã đặt ra ban đầu. Qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy có không ít trường hợp người phạm tội không thực hiện được đầy đủ những dự định đó hoặc họ không tiến hành thực hiện được hành vi phạm tội đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của mình. Quan điểm về các giai đoạn thực hiện tội phạm còn được GS. Lê Văn Cảm tổng kết trong sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005 về khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm, cụ thể như sau: 1) Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các giai đoạn chuẩn bị và trực tiếp thực hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất (nội dung) của hành vi đã được thực hiện và thời điểm chấm dứt xử sự có tính chất tội phạm (B.Zđravômưxlôv); 2) Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các giai đoạn nhất định của việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất của những hành vi được thực hiện và thời điểm chấm dứt hành vi ấy (X.Kelina); 3) Các giai đoạn của việc chuẩn bị và trực tiếp thực hiện tội phạm được quy định trong luật và được phân biệt với nhau theo tính chất và nội dung của hành vi người phạm tội thực hiện, cũng như mức độ kết thúc hành vi phạm tội (Ê. Tuy nhiên cho đến nay khái niệm tội phạm chưa hoàn thành vẫn chưa được pháp luật hình sự Việt Nam ghi nhận cụ thể. Tại Điều 29, Chương 6 trong Bộ luật hình sự của Liên Bang Nga quy định: “1. Tội phạm chưa hoàn thành là chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, GS. Lê Văn Cảm đưa ra quan điểm về khái niệm tội phạm chưa hoàn thành như sau: tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt [2, tr. Theo tác giả, quan điểm của GS. Lê Văn Cảm là phù 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp với những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các giai đoạn thực hiện tội phạm của tội phạm chưa hoàn thành, từ đó phân biệt giữa khái niệm tội phạm chưa hoàn thành và khái niệm tội phạm đã hoàn thành, đồng thời làm rõ cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội để xác định đúng và đầy đủ trách nhiệm hình sự đối với từng giai đoạn thực hiện tội phạm cụ thể.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, nội dung cụ thể của hai giai đoạn thực hiện tội phạm này như sau: + Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn phạm tội trong tội phạm chưa hoàn thành và là một phần của quá trình thực hiện tội phạm cố ý. Ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, người phạm tội đã có hành vi nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực tiện tội phạm, tuy nhiên người phạm tội chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động. Ví dụ như: A chuẩn bị các công cụ sử dụng để phá khóa với mục đích đến nhà B phá khóa trộm cắp tài sản của gia đình B, nhưng khi chuẩn bị thực hiện hành vi thì bị lực lượng dân quân tự vệ phát hiện nên A không thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà B. Giai đoạn chuẩn bị phạm tội được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự, theo đó chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.
Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự [16, Điều 17]. Pháp luật hình sự quy định thời điểm sớm nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là khi tội phạm đã bắt đầu thực hiện những hành vi với mục đích tạo ra những điều kiện vật chất, tinh thần để cho quá trình phạm tội diễn ra thuận lợi, dễ dàng và ngay trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách quan được phản ánh trong cấu thành tội phạm là thời điểm muộn nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, một khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm thì mặc nhiên đã không còn ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đặc điểm của hành vi chuẩn bị phạm tội là chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của loại tội phạm định thực hiện nhưng có ảnh hưởng tới khả năng gây thiệt hại của tội phạm. Kết quả của việc thực hiện tội phạm phần nào phụ thuộc vào hành vi chuẩn bị phạm tội, nếu quá trình chuẩn bị phạm tội càng chi tiết, kĩ lưỡng thì quá trình thực hiện tội phạm có khả năng gây ra hậu quả cao hơn, nghiêm trọng hơn.
Theo luật hình sự Việt Nam, không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được đánh giá và phân biệt thành hai loại: loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải truy cứu trách nhiệm hình sự (nếu tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng) và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị phạm tội mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện. Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng sau: - Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm. Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội.
Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm. - Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem gia đình B thường vắng mặt nhà vào giờ nào, quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành trộm cắp. - Chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội: chuẩn bị xe máy để đi cướp tài sản, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc độc để đầu độc, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để gây mê cho người có tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn bị con dấu giả để lừa đảo.
- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng như: tắt hệ thống camera để đêm đột nhập vào công ty trộm tài sản, cho bảo vệ uống rượu say để đột nhập vào cơ quan được dễ dàng. Khi người phạm tội thực hiện tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, trong trường hợp hành vi phạm tội đã cấu thành tội phạm độc lập khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó. Ví dụ như: A có ý định giết B nên đã tìm mua một khẩu súng quân dụng, sau đó A đi tìm B để giết, nhưng trên đường đi đã bị công an xã bắt.