CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP 1. Dạy học phát triên năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một thuật ngữ khoa học đã có từ rất lâu, tùy vào mỗi lĩnh vực va hướng nghiên cứu mà khái niệm nay được định nghĩa theo những cách khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm cụ thé về năng lực.
Theo từ điện của Đại học Harvard, năng lực là những điều mà mỗi cá nhân chứng minh minh có hiệu quả trong công việc, vai trò, chức năng, nhiệm vụ. Với nghiên cứu trong lĩnh vực Giáo dục, chương trình giáo dục phô thông của New Zealand định nghĩa một cách ngắn gọn: “Nang lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích dang trong các tình huéng phức tạp nào đó”. Theo nhóm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh [4] cùng với nhóm nghiên cứu tác gia Đỗ Hương Tra [5] thi năng lực là kha năng lam chủ những kiến thức, kĩ năng, thai độ và vận hành (kết nỗi) chúng một cách hợp lí vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả van dé đặt ra trong cuộc sống. Tiếp thu những quan niệm về nang lực của các nước phát trién, chương trình giáo dục phô thông 2018 — chương trình tông thẻ của Việt Nam đã xác định [2]: Nang lực la thuộc tính cá nhân được hình thanh, phát triển những tổ chất sẵn có va qua trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tong hợp các kiến thức, kĩ năng và thuộc tinh ca nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chi,.
để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy, có thé hiéu nang lực là kha năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng, và những thuộc tính tâm lí cá nhân đẻ giải quyết hiệu quả các vẫn đề của cuộc sống hay nhiệm vụ hang ngảy. Những kiến thức, ki năng va thuộc tinh cá nhân nay tiếp tục được phát triển và phát triển trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề. Chương trình Giáo dục phô thông tổng thê phân loại năng lực cốt lõi thành hai loại: năng lực chung và năng lực đặc thù.
Năng lực chung được hình thành. phát triển thông qua tat cả các môn học và hoạt động giáo dục. Cấu trúc của năng lực chung được mô tả là sự kết hợp của ba năng lực thành phần: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyền van dé và sáng tạo. Năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học va hoạt động giáo dục nhất định.
Cấu trúc của năng lực đặc thù được mô tả là sự kết hợp của bảy năng lực thành phần: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thâm mĩ và năng lực thể chất. Cầu trúc năng lực (Chương trình Giáo dục phổ thông tong thể 2018) 1. Năng lục Vật lí 1. Khái niệm năng lực Vật lí Cũng như khái niệm năng lực, năng lực Vật lí tuy đã được thu hẹp dựa trên dối tượng nghiên cứu là môn Vật lí trong lĩnh vực Giáo dục nhưng cũng được định nghĩa trên nhiều phương điện khác nhau.
Dưới đây là một số quan điểm về năng lực Vật lí Dựa trên phương pháp nhận thức của các nha Vật lí, căn cứ vào đặc điểm mức độ nhận thức của học sinh và dựa trên nội dung cốt lõi của môn Vật lí. Nhóm tác giả Nguyễn Văn Biên đã định nghĩa [6]: Năng lực Vật lí được là khả năng tìm ra quy luật, vận dụng quy luật về sự vận động, sự tương tác, sự bảo toàn trong thé gidi tu nhiên dé giải quyết những van dé trong khoa học và đời sống. Theo chương trình GDPT, Vật lí là một môn lựa chọn trong nhóm Khoa học tự nhiên ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp. Do vậy có thé căn cứ vào năng lực khoa học OECD va cấu trúc năng lực khoa học theo quan điểm PISA có thé đưa ra khái niệm năng lực Vật lí dựa trên quan điểm va năng lực khoa học như sau: “Nang lực Vật lí là được thể hiện thông qua việc HS vận dụng kiến thức dé nhận ra các vấn đề khoa hoc trong cuộc song, giải thích các hiện tượng Vat lí va rút ra kết luận dựa trên các băng chứng dé hiểu va đưa ra quyết định về thê giới tự nhiên và những thay doi đó phù hop với hoạt động của con người?) (7).
Như vậy năng lực Vật lí là kha năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và những thuộc tinh tâm lí cá nhân dé tìm ra được những quy luật khoa học về sự vận động, sự tương tác, sự bảo toàn và vận dụng chúng dé giải quyết các van đề thực tiễn trong cuộc sông. Cấu trúc và biểu hiện cúa năng lực Vật lí — Theo chương trình GDPT môn Vật lí 2018, năng lực Vật lí có những cau trúc và biéu hiện được thẻ hiện ở bảng bên dưới. Biéu hiện hành vi cụ thé ứng với từng năng lực thành té của năng lực Vật lí [3] Thành phần năng Š cac Biêu hiện lực [KT] Nhận biết và nêu được các đôi tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình Vật lí. [K2] Trình bày được các hiện tượng, quá trình Vật lí: đặc A.
Nhận thức Vật lí | điểm, vai trò của hiện tượng, quá trình Vật lí bằng các hình = Nhận thức được thức biêu đạt: nói, viết, do, tính, vẽ, lập sơ đò, biêu đồ. kiến thức, kĩ năng [K3] Tìm được từ khóa, sử dụng được thuật ngữ khoa học. pho thông cốt lõi Kết nỗi được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý vẻ: mô hình hệ Vật khi đọc và trình bày các văn bán khoa học lí; chất, năng lượng [K4] So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện và sóng: lực và tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau. [KS] Giải thích được moi quan hệ giữa các sự vật, hiện — Nhận biết được tượng, quá trình.
một số ngành nghề [K6] Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời liên quan đến Vật lí giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. [P1] Đề xuất van đề liên quan đền vật li: Nhận ra vả đặt được B. Tìm hiểu thế câu hỏi liên quan đến vẫn đẻ: phân tích được bỗi cảnh đẻ đề giới tự nhiên dưới xuất được van dé nhờ kết nói tri thức, kinh nghiệm đã có và góc độ Vật lí dùng ngôn ngữ của minh dé biéu đạt van đẻ đã đề xuất. = Thực hiện được [P2] Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vẫn hoạt động tìm hiểu dé dé nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giá một số sự vật, hiện thuyết cần tìm hiệu.
gần [P3] Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic gũi trong đời sống nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp và trong thé giới tự (quan sát, thực nghiệm. điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu): nhiên theo tiền trình. lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu. —=Sửừ dung các [P4] Thực hiện kê hoạch: Thu thập, lưu giữ được dir liệu từ chứng cứ khoa học kết qua tong quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết để kiểm tra các dự quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số đoán, lí giải các thông kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải chứng cứ.
rút ra các thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết. [P5] Viet, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ 46, biểu bảng dé biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra đề tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. [P6] Ra quyết định và dé xuât ý kiên, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho van dé đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp. Vận dụng kiên [V1] Giải thích, chứng minh được một van đẻ thực tiễn.
thức, kĩ năng đã [V2] Đánh gia, phản biện được ảnh hướng của một van đề học: Vận dụng được thực tiễn kiến thức, kĩ năng đã học trong một số thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới. trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như [V4] Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp một ngôn ngữ và dé bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đôi khí hậu: có công cụ để giải hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. quyết được van dé 1. Bài tập trong dạy học Vật lí 1.
Khái niệm bài tập Vật lí Bên cạnh những thuật ngữ khoa học như năng lực, năng lực Vật lí thì khái niệm Bài tập Vật lí cũng được nhiều nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có thé kê đến một vai khái niệm bai tập Vật lí như sau: Theo X. Ôrêkhốp: “Bai tập Vat lí được hiểu là một van đề được đặt ra mà trong trường hợp tổng quát đòi hỏi những suy luận logic những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các PP của Vat lí học”. Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài tiệu về phương pháp đạy học bộ môn, người ta thường hiểu BTVL la những bài tập luyện tap được lựa chon một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lí của HS và rén luyện kĩ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn. Theo Nguyễn Văn Biên và cộng sự [6]: “Bai tập Vật lí có thể hiểu theo nghĩa rong là nhiệm vụ học tập mà HS phải thực hiện trong qua trình học tap hoặc hiểu theo nghĩa hẹp là những nhiệm vụ được giao cụ thể với day đủ thông tin đã biết và những yêu câu can thực hiện.
Trong qua trình giải bai tap, đòi hỏi người làm phải say luận logic, sử dung các phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và phương pháp Vật li, thông qua đó, người làm bài tập phát triển được những năng lực và phẩm chất nhất định".