mở đầu nhằm nêu ra một hiện tượng can nghiên cứu như sự rơi tự do, định luật Bôi-lơ Ma-ri-6t. > Thí nghiệm thực hành trên phòng thí nghiệm: là thí nghiệm do học sinh thực hiện trên các phòng thí nghiệm của nha trưởng với thời gian từ một đến hai tiết. Các thí nghiệm loại này thường là các thí nghiệm được tiền hành sau khi đã học xong và nắm vững các kiến thức đã học. Ví dụ thí nghiệm kiêm chứng quy tac hợp lực dong quy, kiếm chứng quy tắc hợp lực song song cùng chiều.
Thuộc loại này còn có các thí nghiệm đo các đại lượng vật lí như đo hệ số căng bè mặt của chất lỏng, đo hệ số ma sắt nghĩ, đo hệ số ma sắt trượt. > Thí nghiệm thực hành tại nhà : là loại thí nghiệm do học sinh thực hiện ở nhà dưới sự hướng dẫn trên lớp của giáo viên. Ví dụ: thí nghiệm quan sát hiện tượng khúc xạ ánh sáng, thí nghiệm quan sát hiện tượng tán sắc ánh sáng.Các thí nghiệm thuộc loại này thường quan sát, định tính vì học sinh không thể tự làm các thí nghiệm định lượng. Vai trò của thí nghiệm Vật lí trong day học Vật lí ở trường pho thông: Theo [13] thì thí nghiệm Vật lí có các vai trò sau đây: Thí nghiệm Vật lí đóng vai trò quan trọng.
Nó được sử dụng trong tat cả các khâu trong quá trình day học từ khâu nêu van đẻ. giải quyết van dé, cũng cô. Thí nghiệm là phương tiện kích thích sự hứng thú học tập. tò mò, phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình nhận thức.Thông qua tiễn hành thí nghiệm, học sinh hiéu được bản chất của các hiện tượng, định luật, quá trình Vật lí.
khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn. Thí nghiệm tạo môi trường và cơ hội dé học sinh quan sát và đưa ra những dự đoán, từ thí nghiệm học sinh tự mình lắp dụng cụ, tiền hành thí nghiệm. phát hiện ra những vấn dé mới mà trong lí thuyết chưa dé cập, nhờ đó hoạt động nhận thức của học sinh sẽ được tích cực va tư duy của các em sẽ được phát triển. Thí nghiệm Vật lí giúp cho học sinh dé tiếp thu hơn, nhớ lâu hơn kiến thức đã học.
góp phần làm đơn giản hoá các hiện tượng và quá trình Vật lí, giúp cho học sinh tư duy trên những đối tượng cụ thể, những hiện tượng và quá trình đang diễn ra trước mắt. Thí nghiệm Vật lí góp phan làm nôi bật những khía cạnh cần nghiên cứu của từng hiện tượng và quá trình. giúp học sinh để quan sát, dé theo dõi va dé tiếp thu bài. Thí nghiệm giúp học sinh hoàn thiện các pham chất và phát trién toàn diện: Qua quá trình tiễn hành thí nghiệm, học sinh được rèn luyện và hoàn thiện các ki năng ma học sinh can có như khả nang lam việc cá nhân hoặc làm việc nhóm, tỉnh thần tập the, chịu trách nhiệm với công việc của mình.
học sinh có cơ hội trong việc rèn luyện kĩ năng thực hành, góp phần thiết thực vào việc học tập và nghiên cứu sau này. Thí nghiệm còn là điều kiện dé học sinh rèn luyện những phẩm chat của người lao động như đức tính cần thận, kiên trì, trung thực. Thực trạng việc day - học các bài thí nghiệm thực hành ở trường trung học phố thông : 2. Thực trạng của việc đạy - học các bài thí nghiệm thực hành ở các trường trung học phô thông Trong quá trình thực tập ở trường Trung học phô thông Trưng Vương thông qua phiêu điều tra khảo sát, em đã thông kê các ý kiên và nhận thay rang có rat nhiều điều bat cập cũng như khó khăn trong việc dạy và học các bài thí nghiệm thực hành.
- Về việc dạy các bài thí nghiệm thực hành còn một số thực trạng sau đây: Nhà trường chưa thực sự quan tâm trong việc khai thác sử dụng thiết bị thí nghiệm cũng như chưa có chính sách ủng hộ, khích lệ các giáo viên sử dụng thiết bị thí nghiệm trong giảng dạy. Giáo viên ở các trường trung học phô thông có kinh nghiệm trong việc giảng day lý thuyết nhưng lại tương đối yếu về kĩ năng thực hành. Khi còn học trong môi trường sư phạm, nhà trường cũng tô chức dạy các môn học thí nghiệm nhưng lúc đó sinh viên chưa nhận thức được tam quan trọng của bộ môn thí nghiệm nên chỉ học cho có. cũng tương tự như vậy các lớp bồi dưỡng kĩ năng thực hành cho giáo viên có tô chức nhưng chỉ là hình thức, giáo viên không học hỏi được nhiều.
Những tiết thí nghiệm thực hành đúng ra phải thực hiện trong chương trình thì thường được tô chức thực hành qua loa hoặc chuyên thành giờ luyện tập. Giáo viên thực hiện các thí nghiệm chi dừng lại ở mức độ thí nghiệm biểu diễn chứ chưa khai thác hết các thiết bị thí nghiệm Vật lí trong phòng thí nghiệm dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên. yy Hệ thong đánh giá các bài thí nghiệm thực hành chủ yeu théng qua cac bai báo cáo thi nghiệm theo nhóm mà học sinh làm sau khi đã tiền hành thí nghiệm lấy số liệu trên lớp. Với hệ thong đánh giá như trên thì việc đánh giá 14 rất sơ sài và không chính xác do trình độ học sinh trong một nhóm không đồng đều nhưng lại được đánh giá chung do đó cần có bài kiểm tra cá nhân cộng với bài bảo cáo theo nhóm như vậy mới đảm bảo tính khách quan của kết quả.
> O các trường pho thông đều tô chức tiễn hành thí nghiệm theo cách sau : Giáo viên sẽ chia lớp thành các nhóm sau đó phân dụng cụ thí nghiệm và sẽ hướng dẫn cho chung cho các nhóm thực hiện sau đó về viết báo cáo và xử lí số liệu theo hướng dẫn của sách giáo khoa. Trong quá trình tổ chức thí nghiệm thường gặp một số van đẻ sau : =_ Mất thời gian dé phân chia nhóm và ôn định vị trí cho các nhóm cũng như thời gian phân phát dụng cụ. * Nhiều học sinh không biết các dụng cụ thí nghiệm, chức năng, cách lắp đặt dẫn đến lắp ráp sai làm hư hỏng dụng cụ. * Xử lí số liệu cũng như tính toán sai số còn yếu, học sinh chỉ biết tính toán sai số theo công thức sách giáo khoa chứ chưa chứng minh được.
* Giáo viên phải làm việc nhiều, hướng dẫn nhiều nhưng không bao quát được hết lớp và không kịp thời gian. - We việc học các bài thí nghiệm thực hành : > Học sinh không quan tâm nhiều đến các bài thí nghiệm thực hành do các bài thí nghiệm thực hành không nằm trong nội dung thi. > Học sinh gặp khó khăn trong việc tìm tài liệu liên quan đến các bài thí nghiệm thực hành khi muốn tự học ở nhà. Y Học sinh còn yếu trong việc viết báo cáo nhất là trong việc tính sai só, vẽ đồ thi.
> Nhiéu hoc sinh không có kĩ năng thực hành dẫn đến việc khi tiến hành thí nghiệm trên lớp làm hư hại dụng cụ thí nghiệm, trong đó có nhiều dụng cụ mặc tiền. Đề xuất biện pháp giải quyết thực trạng : Sau đây xin dé xuất một số biện pháp dé giải quyết thực trạng trên : 15 > Nhà trường cần nhìn rõ được tam quan trong của thí nghiệm Vật lí từ đó đưa ra các chính sách thích hợp như : Khuyến khích giáo viên sử dụng thiết bị thí nghiệm trong các tiết học, tô chức các tiết thí nghiệm theo phân phối chương trình. Tô chức các cuộc thi về khai thác và cải tạo các thiết bị thí nghiệm do giáo viên hoặc nhóm giáo viên thực hiện. có chính sách hỗ trợ đề giáo viên nghiên cứu, cải tạo thiết bị thí nghiệm.
Thường xuyên kiêm tra và bé sung các thiết bị thí nghiệm can thiết phục vụ cho việc tô chức thí nghiệm, thay thé các thiết bị hư hỏng kịp thời dé các bài thí nghiệm đạt được hiệu quả cao. Mở các đợt tập huấn cho giáo viên boi dưỡng các kĩ năng tiến hành thí nghiệm. Trong các lớp tập huấn, giáo viên được tiên hành các bài thí nghiệm có trong danh mục tôi thiêu. Sau khi đã hoàn thành các bài thí nghiệm cần thiết, giáo viên sẽ được giới thiệu và hướng dẫn khai thác các phân mềm thí nghiệm ao và thí nghiệm Vật lí nâng cao đề hỗ trợ cho việc tô chức thí nghiệm có hiệu quả.
Giáo viên nghiên cứu soạn các bộ cầu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm mà chỉ học sinh làm các bài thí nghiệm thực hành mới trả lời được. Đưa nội dung các bài thí nghiệm thực hành vào các đợt kiêm tra mười lãm phút, một tiết hoặc lấy bài báo cáo thí nghiệm của học sinh để làm cột điểm mười lam phút nhằm nâng cao sự tích cực của học sinh khi học các bài thí nghiệm thực hành. Giáo viên nên nghiên cứu hệ thông quan lí học tập Moodle — một hệ thống quản lí học tập có nhiều tính năng hỗ trợ cho giáo dục, để ứng dụng trong day — học các bài thí nghiệm thực hành nhằm khai thác tối đa những hiệu quả mà công nghệ thông tin mang lại. Ví dụ trước khi học các bài thí nghiệm thực hành trên lớp học sinh sẽ vào trang web được quản lí bởi hệ thống quản lí học tập Moodle dé tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài thí nghiệm thực hành.
Như vậy khi vào tiết thí nghiệm thực hành trên lớp giáo viên không cần hướng dẫn lại những l6 kiến thức đó, tiết kiệm được một khoảng thời gian. Bên cạnh đó do học trực tuyến nên không gò bó về không gian và thời gian. Trong những giải pháp trên thì giải pháp nghiên cứu hệ thông quản lí học tập Moodle dé ứng dụng trong việc day — học các bài thí nghiệm thực hành là khả thi nhất bởi nó dé dang thực hiện và có thé cùng lúc giải quyết được nhiều thực trạng như giúp tiết kiệm thời gian, giúp cung cấp tài liệu về bài thí nghiệm thực hành cho học sinh, giúp giáo viên quản lí và đánh giá quá trình học bài thí nghiệm thực hành tốt hơn. Vi vậy em chọn giải pháp cuối cùng đề nghiên cứu và trién khai xây dựng.
Trong phan tiếp theo xin giới thiệu Cơ sở lí luận về sử dụng hệ thông Moodle trong day học các bài thí nghiệm thực hành Vật lí lớp 10 3. Cơ sở lí luận về sử dụng hệ thống Moodle trong day học thí nghiệm Vật lí phố thông lớp 10. Tong quan về E-learning va Moodle. Téng quan vé E-learning.
- Có rất nhiều quan niệm về E-learning, mỗi quan niệm thê hiện một khía cạnh, một góc độ nhìn khác nhau về E-leaning.