Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (môn Vật lí) được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nhằm chuyển dịch trọng tâm giáo dục từ truyền thụ kiến thức, kĩ năng, thái độ theo Chương trình 2006 sang hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của học sinh. Trong cấu trúc môn học, thí nghiệm và thực hành được xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm rèn luyện cho người học khả năng khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí. Theo lộ trình đổi mới, các kiến thức thuộc chủ đề "Phương trình trạng thái" trong mạch nội dung "Khí lí tưởng" được đưa vào giảng dạy ở lớp 12. Về mặt khoa học, ba định luật chất khí đều được xây dựng trên nền tảng thực nghiệm lịch sử; do đó, chủ đề này mang tiềm năng lớn trong việc bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho học sinh.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai gặp phải những thách thức lớn về trang thiết bị và sự thay đổi nội dung dạy học:
- Sự khác biệt về nội dung khoa học giữa hai chương trình: Trong Chương trình 2006 (Vật lí 10), định luật Charles (Sác-lơ) là định luật về quá trình đẳng tích ($p/T = \text{const}$). Ngược lại, Chương trình 2018 quy định định luật Charles là định luật về quá trình đẳng áp ($V/T = \text{const}$), đồng thời yêu cầu học sinh tiến hành hai thí nghiệm: khảo sát định luật Boyle và minh họa định luật Charles.
- Bất cập về thiết bị thí nghiệm hiện có: Thiết bị dạy học tối thiểu theo Thông tư số 01/2010/TT-BGDĐT chỉ trang bị bộ thí nghiệm "Nghiệm các định luật Bôi-lơ Ma-ri-ốt đối với chất khí" gồm áp kế kim loại, hệ xi-lanh - pit-tông thủy tinh, lọ dầu và nhiệt kế. Thiết bị nghiên cứu 3 định luật chất khí theo Thông tư số 38/2011/TT-BGDĐT chỉ áp dụng cho các trường trung học phổ thông chuyên. Hầu hết các thiết bị này được lắp đặt cố định tại phòng thí nghiệm, vận hành theo quy trình định sẵn, không tạo điều kiện cho học sinh tự đề xuất và thay đổi phương án. Đồng thời, danh mục thiết bị tối thiểu ban hành cho Chương trình 2018 chưa có thiết bị chuyên biệt cho chủ đề này.
- Hạn chế của các thiết bị tự chế trước đây: Thiết bị của Phùng Việt Hải và Nguyễn Văn (2018) dùng ống chữ U đo áp suất và lon nước ngọt tương đối cồng kềnh, khó triển khai đại trà tại lớp học thông thường và chưa tập trung phát triển năng lực thực nghiệm. Bộ dụng cụ từ vật liệu phế thải của Lê Minh Văn (2014) có tính cơ động cao nhưng thiết kế theo khung Chương trình 2006 và thiếu số liệu thực nghiệm kiểm chứng độ chính xác.
Từ thực tế trên, đề tài khóa luận "Xây dựng thiết bị thí nghiệm để dạy học một số kiến thức thuộc mạch nội dung "Khí lí tưởng" môn Vật lí lớp 12 trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018" do sinh viên Lê Nhật Long thực hiện (ngành Sư phạm Vật lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thanh Loan) xác định các mục tiêu và nhiệm vụ sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng bộ thiết bị thí nghiệm dạng module để dạy học các kiến thức thuộc chủ đề "Phương trình trạng thái" (mạch nội dung "Khí lí tưởng" - Vật lí 12, Chương trình 2018) nhằm phát triển năng lực thực nghiệm của học sinh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ chính):
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về năng lực, năng lực thực nghiệm vật lí và biện pháp bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho học sinh trung học phổ thông.
- Chế tạo bộ dụng cụ thí nghiệm đáp ứng việc khảo sát định luật Boyle và minh họa định luật Charles; tiến hành đo đạc thử nghiệm để kiểm chứng độ tin cậy và cải tiến thiết bị.
- Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề "Phương trình trạng thái" theo khung kế hoạch bài dạy tại Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH; tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường trung học phổ thông để đánh giá hiệu quả phát triển năng lực thực nghiệm.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Nội dung kiến thức "Phương trình trạng thái" trong mạch "Khí lí tưởng" (Vật lí 12, Chương trình 2018) và biểu hiện năng lực thực nghiệm của học sinh trung học phổ thông.
- Phạm vi nội dung: Các yêu cầu cần đạt về định luật Boyle và định luật Charles theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm: Triển khai dạy học thực nghiệm tại lớp 10A17, Trường Trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (năm học 2021–2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lí luận dựa trên quan điểm dạy học phát triển năng lực và bản chất của phương pháp thực nghiệm trong bộ môn Vật lí:
- Khung lí thuyết về năng lực thực nghiệm: Tác giả vận dụng khung cấu trúc năng lực thực nghiệm vật lí của học sinh do Lê Thị Xuyến và Phạm Xuân Quế (2021) xây dựng, đối chiếu và chuẩn hóa tương thích với 3 biểu hiện năng lực vật lí theo Chương trình 2018 (nhận thức vật lí; tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học). Cấu trúc gồm 4 thành tố và 11 chỉ số hành vi cụ thể.
- Nguyên lí đo lường và mô hình vật lí:
- Thí nghiệm khảo sát định luật Boyle áp dụng cơ chế nén/dãn khối khí bằng trọng lượng của hệ pit-tông và quả cân thay vì dùng cột thủy ngân độc hại hay cột nước cồng kềnh. Khi pit-tông cân bằng, áp suất $p$ của khối khí nhốt trong cylinder được xác định qua biểu thức:
$$p = p_0 + \frac{F}{A} = p_0 + \frac{Mg}{\pi r^2}$$
Trong đó: $p_0$ là áp suất khí quyển, $F = Mg$ là trọng lượng tổng cộng của pit-tông, đĩa cân và các quả nặng đặt trên đĩa ($M$), $A = \pi r^2$ là tiết diện lòng cylinder với bán kính $r$, $g$ là gia tốc trọng trường.
- Thí nghiệm minh họa định luật Charles khảo sát sự phụ thuộc của thể tích $V$ vào nhiệt độ tuyệt đối $T$ khi duy trì áp suất không đổi bằng cách nhúng cylinder chứa khối khí vào cốc nước có các mức nhiệt độ khác nhau trên bệ nâng hạ.
- Phương pháp nghiên cứu thực hiện:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp các văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chương trình tổng thể, Chương trình môn Vật lí 2018, Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH), các luận án, bài báo trong và ngoài nước về năng lực thực nghiệm và thiết bị thí nghiệm chất khí.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: Thiết kế, lựa chọn vật liệu, chế tạo cơ khí các module của bộ thí nghiệm; thực hiện thao tác đo kiểm số liệu thực tế nhiều lần để đánh giá sai số giữa hai phương án cylinder (nhựa và thủy tinh).
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu đo đạc, sai số thí nghiệm; sử dụng bảng kiểm, rubric đánh giá 3 mức độ tự lực và vẽ biểu đồ mạng nhện để lượng hóa sự tiến bộ của học sinh trong thực nghiệm sư phạm.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu từ các tài liệu khoa học giáo dục, thông số kĩ thuật từ phòng thí nghiệm Khoa Vật lý (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh), số liệu thực nghiệm đo đạc $p - V$ và $V - T$ trên thiết bị tự tạo, cùng hồ sơ học tập và biên bản quan sát tiết dạy của 7 học sinh đại diện tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng kết hệ thống nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 3 mảng nội dung chính:
- Nghiên cứu về năng lực thực nghiệm: Tổng hợp quan niệm của Trần Thị Thanh Thư (2016), Nguyễn Văn Nghĩa và Phan Gia Anh Vũ (2018), Dương Đức Giáp và Nguyễn Văn Nghĩa (2019), Nguyễn Văn Biên (2013), Philipp Bitzenbauer và Jan-Peter Meyn (2021), Ngô Văn Thiện (2019). Các tác giả phân định rõ năng lực thực nghiệm vật lí với năng lực thực hành chung, đồng thời làm rõ các cấu trúc thành tố từ lập kế hoạch, chế tạo, thao tác đến xử lí dữ liệu.
- Nghiên cứu về biện pháp phát triển năng lực thực nghiệm: Phân tích các hướng tiếp cận chính như áp dụng dạy học tích cực (dạy học theo chủ đề của Phùng Việt Hải, Nguyễn Thị Quỳnh Trang và Phan Thị Vương, 2018) và việc tăng cường khai thác, tự tạo thiết bị thí nghiệm học sinh.
- Nghiên cứu về thiết bị dạy học chất khí: Tổng hợp phân tích của Limpanuparb và cộng sự (2018) về các cơ chế khảo sát định luật chất khí trên thế giới: dùng cột thủy ngân (thí nghiệm gốc của Boyle, Hermens, Breck & Holmes, Mortimer); dùng cột chất lỏng khác như nước cất (Chang & Cheung, Ivanov); dùng cơ chế đặt vật nặng lên pit-tông của cylinder (Lewis, AP Physics 1 and 2 Inquiry-Based Lab Investigations). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại thiết bị theo Thông tư 01/2010/TT-BGDĐT, Thông tư 38/2011/TT-BGDĐT, các giải pháp tự tạo của Phùng Việt Hải & Nguyễn Văn (2018), Lê Minh Văn (2014), hướng tích hợp cảm biến Arduino của Nguyễn Tân Đạt (2016) và thí nghiệm ảo PhET (Carl Wieman). Kết quả tổng quan khẳng định sự cần thiết phải chế tạo một bộ thí nghiệm module gọn nhẹ, an toàn, có kiểm chứng số liệu rõ ràng và phù hợp với Chương trình 2018.
Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về năng lực, cấu trúc năng lực cốt lõi trong Chương trình 2018, vị trí của năng lực vật lí và vai trò của thí nghiệm trong dạy học (thí nghiệm mở đầu, nghiên cứu, củng cố; thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm thực hành). Khóa luận xác lập cấu trúc năng lực thực nghiệm vật lí và xây dựng bộ công cụ đo lường gồm 11 chỉ số hành vi được mô tả qua bảng sau:
| Thành tố năng lực |
Mã chỉ số |
Nội dung chỉ số hành vi |
| 1. Xác định mục đích thực nghiệm |
1.1 |
Xác định câu hỏi cần thực nghiệm |
|
1.2 |
Phát biểu mục đích thực nghiệm |
| 2. Lập kế hoạch thực nghiệm |
2.1 |
Xây dựng cơ sở lí thuyết cho phương án thực nghiệm |
|
2.2 |
Dự kiến các dụng cụ/thiết bị thực nghiệm |
|
2.3 |
Dự kiến phương án bố trí, tiến hành thực nghiệm, thu thập và xử lí dữ liệu |
| 3. Thực hiện kế hoạch thực nghiệm |
3.1 |
Lựa chọn, xây dựng (nếu có) các dụng cụ/thiết bị thực nghiệm |
|
3.2 |
Bố trí lắp ráp các dụng cụ/thiết bị thực nghiệm |
|
3.3 |
Tiến hành các bước thực nghiệm |
|
3.4 |
Thu thập dữ liệu thực nghiệm |
| 4. Xử lí dữ liệu thực nghiệm, kết luận và đề xuất điều chỉnh |
4.1 |
Xử lí được sai số và biểu diễn kết quả của phép đo |
|
4.2 |
Rút ra các kết luận vật lí |
|
4.3 |
Đánh giá và đề xuất cải tiến |
Tác giả cụ thể hóa từng chỉ số hành vi trên bằng rubric đánh giá gồm 3 mức độ chất lượng căn cứ theo tính tự lực của người học:
- Mức 1: Học sinh thực hiện được chỉ số hành vi dưới sự hướng dẫn hoàn toàn của giáo viên.
- Mức 2: Học sinh thực hiện được chỉ số hành vi dưới sự hướng dẫn một phần của giáo viên.
- Mức 3: Học sinh tự lực hoàn toàn thực hiện được chỉ số hành vi.
Chương này cũng xác định quy trình bồi dưỡng năng lực thực nghiệm gồm 5 bước: (1) Xác định hình thức tổ chức bồi dưỡng; (2) Xác định mục tiêu dạy học; (3) Lập kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng; (4) Tổ chức kiểm tra đánh giá; (5) Bổ sung và cải tiến.
Chương 3: Hướng dẫn chế tạo và thử nghiệm thiết bị thí nghiệm dạy học nội dung "Phương trình trạng thái"
Chương 3 trình bày chi tiết việc thiết kế và thử nghiệm bộ thiết bị thí nghiệm gồm các bộ phận dạng module:
| Danh mục linh kiện/dụng cụ |
Thông số và đặc điểm kĩ thuật |
Chức năng trong bộ thí nghiệm |
| Giá đỡ và 1 khóa vuông |
Loại tiêu chuẩn phòng thí nghiệm |
Cố định hệ thống thẳng đứng |
| 1 kẹp bàn tay |
Kẹp chuyên dụng |
Giữ cylinder hoặc nhiệt kế |
| Cylinder nhựa |
Dung tích 12 ml hoặc 20 ml |
Chứa khối khí khảo sát (phương án 1) |
| Cylinder thủy tinh |
Dung tích 20 ml |
Chứa khối khí khảo sát (phương án 2) |
| Van 3 chiều |
Van y tế |
Bịt kín hoặc thông khí đầu hở cylinder |
| Đĩa cân bằng nhôm |
Đường kính 10 – 12 cm |
Chứa quả nặng (gắn vào pit-tông bằng keo silicon) |
| Bộ quả cân |
Gồm: 1 quả 1 kg; 1 quả 500 g; 1 quả 400 g; 2 quả 200 g |
Tác động lực $F = Mg$ để thay đổi áp suất |
| Li thủy tinh chịu nhiệt |
Dung tích 250 ml và 600 ml |
Đựng nước ở các nhiệt độ khác nhau |
| Bệ nâng hạ |
Bệ ren nâng cơ học |
Điều chỉnh độ cao li nước ngập cylinder |
| Nhiệt kế |
Nhiệt kế thủy ngân/rượu tiêu chuẩn |
Theo dõi nhiệt độ của khối khí |
Kỹ thuật chế tạo và lắp ráp:
- Gắn đĩa nhôm vào đầu pit-tông: Sử dụng súng bắn keo silicon nóng, bơm keo trực tiếp lên bề mặt pit-tông rồi ấn chặt vào tâm đĩa nhôm (không bơm keo lên đĩa nhôm vì kim loại tản nhiệt nhanh làm keo mau nguội).
- Khóa vuông và kẹp bàn tay: Kẹp sát thanh giá đỡ, giữ cylinder thẳng đứng tuyệt đối để tránh cản trở hành trình trượt của pit-tông hoặc gây nghiêng lệch trọng tâm quả cân.
Phương pháp vận hành và xử lí sai số:
- Đối với thí nghiệm khảo sát định luật Boyle:
- Phương án cylinder thủy tinh: Do pit-tông thủy tinh có độ hở nhỏ dẫn đến hiện tượng rò rỉ khí sau một thời gian, quy trình bắt buộc phải mở van 3 chiều, kéo pit-tông về vạch thể tích ban đầu $V_0$, sau đó khóa van lại trước mỗi lần thay đổi khối lượng quả cân để đảm bảo lượng khí nhốt không đổi. Mỗi phép đo lặp lại 3 lần lấy giá trị trung bình.
- Phương án cylinder nhựa: Ma sát tĩnh giữa gioăng cao su pit-tông và thành nhựa lớn. Tác giả đưa ra thao tác chuẩn hóa: sau khi đặt quả nặng, ấn nhẹ pit-tông xuống khoảng 3 vạch chia rồi buông tay ghi nhận $V_{\text{dưới}}$, sau đó kéo nhẹ pit-tông lên khoảng 3 vạch chia rồi buông tay ghi nhận $V_{\text{lên}}$. Thể tích thực tế được tính bằng giá trị trung bình giữa hai trạng thái nhằm triệt tiêu lực ma sát.
- Đồ thị quan hệ giữa $p$ và $V$ (dạng hypebol) và đồ thị giữa $p$ và $1/V$ (đường thẳng đi qua gốc tọa độ) trên cả hai phương án đều xác nhận áp suất tỉ lệ nghịch với thể tích trong quá trình đẳng nhiệt.
- Đối với thí nghiệm minh họa định luật Charles: Khối khí được nhốt trong cylinder, đặt vào cốc nước trên bệ nâng hạ. Thay đổi nhiệt độ của nước trong cốc, đo nhiệt độ bằng nhiệt kế và đọc thể tích tương ứng trên vạch chia cylinder. Đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa thể tích $V$ và nhiệt độ tuyệt đối $T$ là đường thẳng có đường kéo dài đi qua gốc tọa độ, minh chứng hệ thức $V/T = \text{const}$ khi áp suất không đổi.
Chương 4: Xây dựng tiến trình dạy học chủ đề "Phương trình trạng thái" có sử dụng bộ dụng cụ thí nghiệm nhằm phát triển năng lực thực nghiệm của học sinh
Tác giả thiết kế tiến trình dạy học theo cấu trúc Phụ lục IV, Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH:
- Phân tích sư phạm: Xác định chuỗi hoạt động học, thiết bị dạy học và học liệu, hệ thống câu hỏi định hướng kèm các phiếu học tập và phong bì gợi ý có dán kín đáp án (hỗ trợ phân hóa khi học sinh gặp khó khăn trong việc đề xuất phương án thí nghiệm).
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tại lớp 10A17 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi. Để đánh giá sâu sự phát triển năng lực thực nghiệm, tác giả lựa chọn và mã hóa 7 học sinh đại diện (HS 1 đến HS 7) với các mức học lực khác nhau.
- Đánh giá kết quả qua biểu đồ mạng nhện: Các chỉ số hành vi thuộc 4 thành tố năng lực được chấm điểm dựa trên rubric 3 mức độ. Kết quả định lượng cho thấy:
- Điểm trung bình của 7 học sinh ở thành tố "Lập kế hoạch thực nghiệm" có sự gia tăng rõ rệt từ mức phải hỗ trợ sang mức tự lực đề xuất dụng cụ và phương án.
- Ở thành tố "Thực hiện kế hoạch thực nghiệm", học sinh đã nắm vững thao tác lắp ráp module, thành thạo kĩ thuật triệt tiêu ma sát (ấn/kéo pit-tông) và ghi nhận số liệu chính xác.
- Ở thành tố "Xử lí dữ liệu thực nghiệm và rút ra kết luận", học sinh tự vẽ được đồ thị biểu diễn $(p, V)$, $(p, 1/V)$, $(V, T)$, tính toán sai số và rút ra đúng bản chất các định luật.
- Hình ảnh biểu đồ mạng nhện của cả 7 học sinh đều có xu hướng mở rộng diện tích từ các vòng trong (mức 1, mức 2) ra vòng ngoài (mức 3), chứng minh tính khả thi của tiến trình dạy học và hiệu quả của bộ thiết bị tự chế.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả cụ thể đạt được:
- Thiết kế và chế tạo hoàn chỉnh 01 bộ dụng cụ thí nghiệm dạy học chất khí dạng module gọn nhẹ, chi phí thấp, tận dụng các vật tư dễ tìm (cylinder y tế, van 3 chiều, đĩa nhôm, quả cân, bệ nâng).
- Xác lập được số liệu thực nghiệm đo đạc định lượng kiểm chứng thành công hai quy luật chất khí theo Chương trình 2018:
- Định luật Boyle: Chứng minh tích $p \cdot V$ là hằng số qua hai phương án cylinder nhựa và cylinder thủy tinh; xử lí triệt để sai số ma sát và rò rỉ khí.
- Định luật Charles: Khảo sát thành công sự biến thiên thể tích theo nhiệt độ tuyệt đối ở áp suất khí quyển, dựng được đồ thị $V - T$ tuyến tính.
- Xây dựng kế hoạch bài dạy chi tiết kèm bộ hồ sơ thực nghiệm (rubric đánh giá 11 chỉ số hành vi, bảng kiểm, phiếu hỗ trợ học tập) và thực nghiệm sư phạm thành công trên nhóm mẫu 7 học sinh tại lớp 10A17 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi.
- Đóng góp về mặt lí luận: Khóa luận là công trình tiên phong chuyển hóa các yêu cầu cần đạt của mạch "Khí lí tưởng" (Vật lí 12, Chương trình GDPT 2018) thành khung năng lực thực nghiệm chuyên biệt, tích hợp hài hòa các biểu hiện năng lực vật lí theo chương trình mới thay vì tiếp cận theo mô hình kiến thức - kĩ năng - thái độ cũ.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và thiết bị:
- Khắc phục nhược điểm cồng kềnh của bộ dụng cụ Phùng Việt Hải & Nguyễn Văn (2018) và bổ sung số liệu kiểm chứng định lượng mà đề tài của Lê Minh Văn (2014) còn thiếu.
- Cấu trúc module tháo rời cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa thí nghiệm khảo sát định luật Boyle và minh họa định luật Charles, tạo cơ hội cho học sinh tự đề xuất phương án và lắp ráp, đáp ứng mức độ cao nhất của yêu cầu cần đạt trong Chương trình 2018.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Về thiết bị: Pit-tông của cylinder thủy tinh sau nhiều chu kì trượt có hiện tượng hở nhẹ, gây rò rỉ khí nếu giữ tải trọng quá lâu; ngược lại, gioăng cao su của cylinder nhựa có lực ma sát nghỉ đáng kể, đòi hỏi người thực hiện phải thực hiện thao tác ấn/kéo trợ lực trước khi đọc số liệu.
- Về phạm vi thực nghiệm: Nghiên cứu mới chỉ tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 01 lớp học (lớp 10A17, Trường THPT Mạc Đĩnh Chi) với mẫu đánh giá sâu gồm 7 học sinh đại diện; chưa tiến hành khảo nghiệm diện rộng ở nhiều trường có điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
- Hướng nghiên cứu phát triển:
- Cải tiến phần cơ khí của cylinder (nghiên cứu bổ sung gioăng làm kín chuyên dụng có hệ số ma sát thấp, bổ sung dầu bôi trơn chuyên dụng không bay hơi) để tăng độ bền và giảm thiểu sai số đo.
- Tích hợp cảm biến áp suất và cảm biến nhiệt độ điện tử kết nối vi điều khiển để tự động hóa quá trình thu nhận dữ liệu, phục vụ dạy học STEM và chuyển đổi số.
- Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên nhiều khối lớp và địa bàn trường học khác nhau để kiểm chứng tính phổ quát của bộ rubric đánh giá.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:
- Đối với giáo viên Vật lí THPT: Cung cấp bản thiết kế chi tiết, dễ chế tạo tại chỗ để tự trang bị dụng cụ dạy học chủ đề "Phương trình trạng thái" trong bối cảnh các trường chưa được cấp phát thiết bị theo Chương trình 2018. Kế hoạch bài dạy theo Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH cùng bộ phong bì gợi ý phân hóa là tư liệu trực tiếp để tổ chức tiết dạy trên lớp.
- Đối với sinh viên ngành Sư phạm Vật lí và học viên cao học lí luận dạy học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về việc đối chiếu yêu cầu cần đạt của chương trình mới với các chỉ số hành vi năng lực thực nghiệm, cùng kĩ thuật thiết kế thang đo rubric và phương pháp biểu diễn số liệu đánh giá bằng sơ đồ mạng nhện.
- Đối với các nhà sản xuất thiết bị giáo dục: Cung cấp nguyên mẫu thiết bị module hóa chi phí thấp, độ an toàn cao (loại bỏ hoàn toàn thủy ngân), có thể tiêu chuẩn hóa để sản xuất hàng loạt phục vụ các phòng thực hành trường học.
Câu hỏi thường gặp
-
Khóa luận đã giải quyết hiện tượng ma sát lớn của gioăng cao su trong cylinder nhựa khi làm thí nghiệm Boyle bằng cách nào?
Tác giả chuẩn hóa thao tác đo: sau khi đặt tải trọng lên đĩa cân, người đo dùng tay ấn nhẹ pit-tông xuống khoảng 3 vạch chia rồi thả ra để ghi nhận giá trị thể tích dưới ($V_{\text{dưới}}$), sau đó kéo nhẹ pit-tông lên khoảng 3 vạch chia rồi buông tay để ghi nhận giá trị thể tích trên ($V_{\text{lên}}$). Thể tích thực tế được tính bằng trung bình cộng của hai giá trị này nhằm triệt tiêu ảnh hưởng của lực ma sát nghỉ.
-
Tại sao đối với cylinder thủy tinh, tác giả lại yêu cầu phải mở van 3 chiều sau mỗi lần thay đổi quả cân?
Do cylinder thủy tinh không dùng gioăng cao su nên sau một khoảng thời gian chịu áp lực nén, một lượng nhỏ chất khí sẽ rò rỉ qua khe hở giữa pit-tông và thành xi-lanh. Việc mở van 3 chiều, kéo pit-tông về vạch thể tích chuẩn $V_0$ rồi khóa lại trước mỗi lần tăng tải trọng đảm bảo khối lượng khí được khảo sát luôn giữ không đổi trong suốt tiến trình thí nghiệm.
-
Nội dung định luật Charles trong khóa luận này có gì khác biệt so với sách giáo khoa Vật lí lớp 10 Chương trình 2006?
Trong Chương trình 2006, định luật Charles (Sác-lơ) là định luật mô tả quá trình đẳng tích ($p$ tỉ lệ thuận với $T$). Trong Chương trình 2018 và khóa luận này, định luật Charles được chuẩn hóa theo quốc tế là định luật đẳng áp ($V$ tỉ lệ thuận với $T$ khi $p$ không đổi).
-
Khóa luận sử dụng công cụ nào để đánh giá sự phát triển năng lực thực nghiệm của học sinh trong thực nghiệm sư phạm?
Tác giả sử dụng bộ rubric gồm 11 chỉ số hành vi chia thành 3 mức độ tự lực (Mức 1: có sự hướng dẫn hoàn toàn của giáo viên; Mức 2: có sự hướng dẫn một phần; Mức 3: hoàn toàn tự lực). Kết quả đánh giá từng học sinh được biểu diễn trực quan và so sánh thông qua sơ đồ mạng nhện.
-
Bộ thiết bị thí nghiệm tự tạo gồm những linh kiện chính nào?
Bộ thiết bị gồm: giá đỡ có khóa vuông, kẹp bàn tay, cylinder nhựa (12 ml hoặc 20 ml), cylinder thủy tinh (20 ml), van y tế 3 chiều, đĩa cân nhôm dán keo silicon, bộ quả cân (1 kg, 500 g, 400 g, 200 g), cốc thủy tinh (250 ml, 600 ml), bệ nâng hạ và nhiệt kế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Nhật Long đã giải quyết thành công vấn đề thiếu hụt trang thiết bị dạy học mạch "Khí lí tưởng" theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 bằng việc chế tạo bộ thí nghiệm dạng module gọn nhẹ, an toàn và có độ tin cậy khoa học cao. Công trình không chỉ chuẩn hóa quy trình đo đạc thực nghiệm cho định luật Boyle và định luật Charles mà còn xây dựng tiến trình sư phạm bài bản cùng bộ công cụ rubric đánh giá định lượng 11 chỉ số năng lực thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn lớn, đóng góp trực tiếp vào công tác giảng dạy môn Vật lí 12 và quá trình đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.