Chương 1: Cơ sở lí luận của về xây dựng và sử dụng video thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Chương 2: xây dựng và sử dụng video thí nghiệm trong dạy học “Gia tốc của chuyển động thẳng” – Vật lí 10. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 5 CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG VIDEO THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1.
Tổ chức dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 1. Tính tích cực của học sinh trong học tập vật lí 1. Khái niệm về tính tích cực Khi đánh giá hiệu quả của một giờ dạy thì tính tích cực của HS trong quá trình học tập là một tiêu chí vô cùng quan trọng. Học sinh càng tích cực thì chứng tỏ các em hứng thú với nội dung bài học.
Đây cũng là cơ sở để các em tiếp nhận kiến thức một cách chủ động và có chất lượng. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tính tích cực trong quá trình nhận thức nhưng tựu trung lại tính tích cực nhận thức được hiểu là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu nhằm đạt được mục đích đề ra là chiếm lĩnh thông tin để làm thay đổi và phát triển năng lực con người[10]. Biểu hiện của tính tích cực trong học tập Để nhận diện được HS có tích cực trong quá trình học tập hay không giáo viên có thể quan sát những biểu hiện của các em trong giờ học. Thông thường những HS tích cực thường rất chú ý vào bài học, hăng hái phát biểu xây dựng bài và tham gia các hoạt động học tập do giáo viên triển khai.
Những HS này sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng. Và rất nhiều em trong số đó có thể tái hiện lại kiến thức đã học bằng ngôn ngữ riêng của mình, thậm chí còn biết liên hệ với những vấn đề khác có liên quan. 6 Giáo viên muốn phát hiện được mức độ tích cực của học sinh cần dựa vào một số dấu hiệu sau đây [10]: + Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài(gia đình, bạn bè, xã hội.)? + Thực hiện nhiệm vụ của giáo viên ở mức độ tối thiểu hay tối đa? + Tích cực nhất thời hay thường xuyên? + Có kiên trì vượt khó hay không? 1. Tính sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí 1.
Khái niệm về tính sáng tạo Sáng tạo là một phẩm chất đặc biệt chỉ có ở bộ não của con người. Nhờ có năng lực này mà nhân loại luôn tìm được ra những giải pháp mới, có giá trị giúp giải quyết một khó khăn, bế tắc nhất định. Tuy nhiên sự sáng tạo luôn phải được dựa trên một nền tảng nhất định. Đó là những kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.
Thông thường kiến thức càng sâu rộng, kỹ năng càng thành thạo thì khả năng sáng tạo càng có cơ hội phát triển. Vì vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời với việc học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó. Hoạt động sáng tạo của nhà khoa học là tìm ra những phát minh mà nhân loại chưa một ai biết, còn hoạt động sáng tạo đối với học sinh mang ý nghĩa là một hoạt động tập dượt sáng tạo, sáng tạo lại. Điều quan trọng cần đạt được không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ.
Kiến thức học sinh sáng tạo ra sau này sẽ quên đi vì không được dùng đến, còn năng lực sáng tạo của họ thì sẽ luôn được sử dụng trong hoạt động thực tiễn sau này [18]. Biểu hiện của tính sáng tạo trong học tập 7 Quan sát những biểu hiện của người học trong quá trình học tập, giáo viên có thể phát hiện ra được những HS có năng lực sáng tạo. Đó thường là những HS phát hiện ra được cấu trúc, kết cấu của đối tượng đang nghiên cứu, hoặc chức năng mới ở những đối tượng quen biết, đưa ra được phương án giải quyết trước vấn đề đặt ra, thậm chí có thể đề xuất ý kiến riêng hoặc một giải pháp mới mà không sợ khác với ý kiến của giáo viên hay các thành viên khác. Những HS này sẽ biết cách điều chỉnh những sai lầm gặp phải và vận dụng được kiến thức đã học để giải quyết những tình huống trong thực tế cuộc sống hàng ngày.
Dạy học giải quyết vấn đề trong vật lí Quá trình nhận thức của con người sẽ nảy sinh khi gặp phải một mâu thuẫn tư duy. Làm thế nào để giải quyết được vấn đề với vốn kiến thức kỹ năng kinh nghiệm hiện có. Trong trường hợp này muốn hoàn thành nhiệm vụ buộc chúng ta phải tìm tòi học hỏi. Và kết quả thu nhận được đó là vốn kiến thức kỹ năng mới sẽ được hình thành.
Trên cơ sở quy luật nhận thức này, phương pháp dạy học GQVĐ được hình thành. Dạy học GQVĐ là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực GQVĐ của HS. HS được đặt trong một tình huống có VĐ, thông qua việc GQVĐ đó giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức mới. - Khái niệm VĐ: Dùng để chỉ một khó khăn, một nhiệm vụ trong quá trình học tập mà muốn giải quyết được vấn đề đó học sinh không chỉ cần kiến thức kinh nghiệm sẵn có, mà phải tìm tòi sáng tạo những kiến thức mới, cách làm mới.
Tức là vấn đề đó luôn phải chứa đựng một câu hỏi về một cái mới chưa biết chứ không phải là câu hỏi tái hiện lại những kiến thức đã có. 8 - Khái niệm tình huống có VĐ: Tình huống có VĐ là tình huống mà khi HS tham gia giải quyết sẽ gặp phải một số khó khăn. Tình huống này phải kích thích được sự tò mò hứng thú và khơi gợi được quyết tâm chinh phục của HS. Do đó khi đặt tình huống giáo viên phải bảo đảm sao cho HS ý thức được VĐ, mong muốn GQVĐ đó và cảm thấy với khả năng của mình thì hi vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc GQVĐ đó.Ôkôn thì dạy học GQVĐ là toàn bộ các hành động như tổ chức các tình huống có VĐ, biểu đạt các VĐ, chú ý giúp đỡ cho HS những điều cần thiết để HS GQVĐ, kiểm tra các cách giải quyết đó và cuối cùng lãnh đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được.
Dạy học GQVĐ có tác dụng phát huy hoạt động nhận thức tự chủ, tích cực của HS, giúp HS chiếm lĩnh được các kiến thức khoa học một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời bảo đảm sự phát triển trí tuệ trong quá trình học tập [10]. Dạy học GQVĐ theo con đường lí thuyết và thực nghiệm 1. Dạy học giải quyết vấn đề theo con đường lí thuyết Tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường lí thuyết của kiểu dạy học giải quyết vấn đề được thể hiện qua sơ đồ sau: 1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát: từ kiến thức cũ, kinh nghiệm, thí nghiệm, bài tập, truyện kể lịch sử.
Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời) 3. Giải quyết vấn đề 9 3. GQVĐ nhờ suy luận lí thuyết trong đó có suy luận toán học - Suy đoán giải pháp GQVĐ: - Thực hiện giải pháp đã suy đoán để tìm được kết quả 3. Kiểm nghiệm kết quả đã tìm được từ suy luận lí thuyết nhờ thí nghiệm - Xác định nội dung cần kiểm nghiệm nhờ TN.
- Thiết kế phương án TN để kiểm nghiệm kết quả đã thu được từ suy luận lí thuyết hoặc hệ quả của nó - Thực hiện TN: Lập kế hoạch TN, lắp ráp, bố trí, và tiến hành TN, thu thập và xử lí các dữ liệu TN để đi tới kết quả. Rút ra kết luận - Đối chiếu kết quả TN với kết quả đã rút ra từ suy luận lí thuyết. Có 2 khả năng xảy ra: * Nếu kết quả TN phù hợp với kết quả đã tìm được nhờ suy luận lí thuyết thì kết quả này trở thành kiến thức mới. * Nếu kết quả TN không phù hợp với kết quả đã tìm được từ suy luận lí thuyết thì cần kiểm tra lại quá trình TN và quá trình suy luận từ các kiến thức đã biết.
Sơ đồ khái quát tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường lí thuyết của kiểu dạy học GQVĐ - Như vậy chúng ta thấy ở giai đoạn 1, tính tích cực nhận thức và tính sáng tạo của HS được phát triển nếu HS tự phát hiện được VĐ cần giải quyết. 10 Ở giai đoạn 3, thông qua việc HS suy đoán giải pháp GQVĐ, thiết kế phương án thí nghiệm để kiểm nghiệm kết quả đã thu được nhờ suy luận lí thuyết hoặc hệ quả của nó năng lực sáng tạo của HS được phát triển một cách tối đa. - Để GQVĐ, HS phải lựa chọn trong vốn kiến thức của mình những kiến thức cần vận dụng, hay những cách làm mới để tìm ra được câu trả lời. Qua đó, không những tính tích cực nhận thức mà cả tính sáng tạo của HS cũng được phát triển.
- Ngoài ra việc kiểm nghiệm kiến thức đã tìm ra từ suy luận lí thuyết nhờ TN không những giúp HS tin tưởng vào tính chân thực của kiến thức, mà còn phát triển tính tích cực và tính sáng tạo của HS thông qua các hoạt động như: suy luận logic từ kết quả ra hệ quả kiểm nghiệm được nhờ TN, thiết kế phương án TN để kiểm nghiệm kết quả đã thu được từ suy luận lí thuyết hoặc hệ quả của nó. Sơ đồ dạy học giải quyết vấn đề theo con đường thực nghiệm Tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường thực nghiệm của kiểu dạy học GQVĐ được thể hiện qua sơ đồ dưới đây: 1. Làm nảy sinh VĐ cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát: từ kiến thức cũ, kinh nghiệm, TN, bài tập, truyện kể lịch sử. Phát biểu VĐ cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời) 3.1 Đề xuất giả thuyết 11 3.
Kiểm tra tính đúng đắn của giải thuyết nhờ TN - Xác định nội dung cần kiểm tra nhờ TN. - Thiết kế phương án TN để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả của nó. - Thực hiện TN: Lập kế hoạch TN, lắp ráp, bố trí và tiến hành TN, thu thập và xử lí các dữ liệu TN để đi tới kết quả. Rút ra kết luận Đối chiếu kết quả TN với giả thuyết (hệ quả) đã đề xuất.