Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Cơ sở thực tiễn Chương 3: Thiết kế ngữ liệu dạy học nói và nghe theo NTLN cho HS lớp 2 đáp ứng Chương trình GDPT 2018 và thực nghiệm sư phạm. NOI DUNG CHUONG 1: CO SO LY LUAN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Qua việc phân tích và tìm hiểu các công trình nghiên cứu về NTLN (speech etiquette) của các nước Malaysia, Liên bang Nga, Trung Quốc, đồng thời tham khảo các tạp chí, các bài báo vẻ giáo dục văn hóa nghỉ thức trong giao tiếp của một số nước, chúng tôi nhận thấy việc rèn cho trẻ giao tiếp một cách tự tin, văn minh, lịch sự đã và đang được các nhà nghiên cứu trên thé giới đặc biệt quan tâm. Dé phân loại hành vi ngôn ngữ, Austin chia hành vi ngôn ngữ làm 3 loại: 1. Hành vi tạo lời (acte locutoire) 2.
Hanh vi mượn lời (acte perlocutoire) 3. Hành vi ở lời (acte illocutoire) (J.Austin, 1962) Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tô của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vung, các kiều kết hợp từ thanh câu. dé tạo ra một phát ngôn vẻ hình thức và nội dung. Hành vi mượn lời là những hành vi "mượn” phương tiện ngôn net, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn đề gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó của người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. NTLN nằm ở khu vực ở lời, khi các lời nói được lặp đi lặp lại nhiều lan và trở nên quá đối quen thuộc. dần dan nó trở thành quy ước chung của xã hội. Theo hai tác giả người Nga, Khrakovskiy va Volodin: “Phép lịch sự được giải thích là phép lịch sự hoặc văn minh khi tuân thủ các quy tắc về nghỉ thức lời nói, chúng ta thường không cô ý lịch sự và tứ tế, chúng ta trung lập về mặt này và không thê cư xử khác đi trong tình huống buộc phải chọn một trong các hình thức xưng hô.
6 Tuy nhiên, ngôn ngữ thé hiện thái độ của một người nói lịch sự đối với người nghe. Bat ké địa vị xã hội của người đối thoại” (Khrakovskiy & Volodin, 1986). Theo Larina, phép lịch sự trong tiếng Nga “Ia tuân thủ các quy tắc ứng xử (không vi phạm có nghĩa là tuân thủ)” (Larina, 2009). Nhà nghiên cứu đã tham khảo dit liệu của các từ điên tiếng Nga, trong đó lịch sự được định nghĩa là “tuân thủ các quy tắc về phép lịch sự; nhã nhặn”.
Larina nhắn mạnh sự khác biệt trong cách hiểu lịch sự trong các nên văn hóa khác nhau: người Anh tin rang lịch sự có nghĩa là thê hiện sự tôn trọng và chú ý đến người khác, trong khi người Nga cho rằng điều đó có nghĩa là biết và tuân theo các quy tắc ứng xử. “Người Nga thích chân thành và hành vi cung cấp thông tin hơn là cách cư xử quá khéo léo” (Larina, 2015). Trong các tình huống giao tiếp, con người phải đối mặt với sự lựa chọn sử dụng hoặc không sử dụng các hình thức nghi thức mà việc sử dụng chúng được coi là biéu hiện của phép lịch sự. Bằng một cách tự nhiên, khái niệm về NTLN đang dan được mở rộng trong nghiên cứu ngôn ngữ ở Nga và cả nước ngoài: các quy tắc ứng xử lời nói không chi bao gồm các công thức ồn định mà còn tuân thủ các nguyên tắc, định dé và châm ngôn của hành vi lời nói, cung cap một dòng giao tiếp thoải mái, làm giảm căng thang trong mối quan hệ giữa những người giao tiếp và làm cho giao tiếp hiệu quả.
Các nghiên cứu về NTLN như một phương tiện hòa hợp trong các lĩnh vực hàng ngày (Akishina, Formanovskaya 1983), ngoại giao (Ratmair 2009), kinh doanh (Cubajevaite, Ruzaite 2007) đã chỉ ra rằng các phương tiện và phương pháp thẻ hiện phép lịch sự trong các lĩnh vực giao tiếp khác nhau có thé khác nhau. Về van đề này, can có các nghiên cứu khác biệt về NTLN tùy thuộc vào các lĩnh vực giao tiếp, bao gôm cả phương tiện giao tiếp. Nghiên cứu “Language politeness use of elementary school students in Mataram” (dịch: Su dụng ngôn ngữ lịch sự của học sinh trưởng tiêu học ở Mataram) của Muammar, Suhardi, Ali Mustadi, Đại học Negeri Yogyakarta, Yogyakarta, Indonesia đã tìm hiểu chi tiết việc sử dụng ngôn ngữ một cách lịch sự và vai trò GV trong việc khắc sâu tính lịch sự trong ngôn ngữ của HS tiêu học tại thành phó Mataram. Nhóm nghiên cứu thực hiện tại 12 trường tiêu học.
Dữ liệu thu thập thông qua bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát, phân tích tài liệu từ hiệu trưởng, GV và HS tại các 7 trường. Nghiên cứu nhân mạnh tằm quan trọng của việc giao tiếp ngôn ngữ một cách lịch sự: để tôn trọng và làm cho người nghe vui vẻ, tránh xung đột và tạo ra một môi trường giao tiếp hòa thuận, xây dựng một xã hội ngôn ngữ tích cực. Nhóm nghiên cứu đồng thời chi ra vai trò của GV trong việc in dau giao tiếp lịch sự cho trẻ: ki luật về thái độ, ngôn ngữ với những hành vi, ngôn ngữ chưa chuân mực: sáng tạo trong cách gợi mở, hướng dan HS giao tiếp tích cực hơn; duy trì môi quan hệ tốt với gia đình đề chỉ ra tầm quan trọng của việc giao tiếp tích cực và yêu câu gia đình phối hợp giáo dục; tích hợp giáo dục giao tiếp lịch sự qua một số môn học khác,. Nghiên cứu “(/m)Politeness in the synchronous chat of elementary school learners” (dich: Không lịch su/ Lich sự trong trò chuyện của học sinh tiểu hoc) của Craig D.
Howard và Jaewoo Do, Đại học Tennessee Knoxville, Khu liên hợp giáo dục 535 Jane & David Bailey, 1122 Volunteer Boulevard, 37996, Knoxville. Việc tham gia vào các trò chơi tương tác, đặc biệt là những trò chơi nhập vai, thường được sử dụng trong môi trường học tập dé phát triển khả năng ngôn ngữ của người học một cách ngẫu nhiên. Nghiên cứu so sánh khả năng ngôn ngữ của HS ở trường tiêu học và khả năng tiếp cận với các phương tiện truyền thông, với các phép đo về phép lịch sự trong giao tiếp của họ. Dữ liệu được thu thập từ các cuộc trò chuyện ngoài trường học trong một môi trường ảo được thiết kế cho HS tiêu học.
Kết quả cho thay người học vẫn còn những lỗi giao tiếp trong việc đôi thoại với các đối tượng khác nhau. Nghiên cứu “Early childhood language politeness strategy model in multiethnic” (dich: Mô hình chiến lược ngôn ngữ lich sự trong giao tiếp đa dân tộc) của Dian Eka Chandra Wardhana, Noermanzah, Khoa Giáo dục Indonesia, Chương trình Sau đại học của Đại học Bengkulu. Indonesia mô tả mô hình chiến lược về phép lịch sự trong ngôn ngữ thời thơ ấu vẻ giao tiếp đa sắc tộc với các quy tắc xã hội khác nhau ở Bengkulu. Nghiên cứu các đối tượng ở các độ tuôi khác nhau, thu thập dữ liệu bằng cách tham gia quan sát, ghi chép dữ liệu bằng số tay và điện tử.
Kết quả cho thấy trong giai đoạn đầu của thời thơ ấu, mô hình tiếp thu ngôn ngữ của trẻ về phép lịch sự có tính đến khoảng cách xã hội khi nói bằng cách “xdu chudi 3 từ” khi chào hỏi, giới thiệu bản thân, bày tỏ sự tôn trong, cảm ơn, yêu thương, xin lỗi, xin phép, nhờ giúp đỡ, § xin đồ, ra lệnh, hứa hẹn. Một loạt các từ có ý nghĩa phản ánh sự phát triên nhân cách của lứa tuéi mam non. Nghiên cứu “The Importance of Expressing Politeness: English Education Students’ Perspectives” (dich: Tam quan trọng của việc thể hiện sự lịch sự: Góc nhìn của sinh viên giáo dục tiếng Anh), Sholihatul Hamidah Daulay, Nabilah Azmi, Tara Pratiwi, Dai học Hỏi giáo Negeri Sumatera Utara, Medan, Indonesia tập trung vào tam quan trọng của việc áp dung phép lịch sự khi nói chuyện với một người nào đó, đồng thời nhắn mạnh rằng lịch sự là cần thiết đề tránh xung đột với người khác. Nhìn chung, các bài viết phân tích sự phát triển hiện đại của việc giảng dạy NTLN (speech etiquette) và nêu tam quan trọng của việc sử dung các hoạt động đề nâng cao năng lực nói cho HS.
Hiện nay, các quốc gia đang phát triển một hệ thong các hoạt động và các bài tập bao gồm một phức hợp hoặc một loạt các bài tập nhằm mục đích thành thạo các đặc điểm văn hóa ngôn ngữ của NTLN trong khuôn khô của một văn hóa ứng Xử giao tiếp. Nó là cần thiết để nâng cao năng lực ngôn ngữ và lời nói cũng như văn hóa giao tiệp.2 Tình hình nghiên cứu trong nước GO trong nước. NTLN là một thuật ngữ mới. Tới năm 2006, NTLN mới được đưa vào nội dung giảng day trong chương trình giáo dục phổ thông.
Tuy nhiên, nó đã vả đang được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm đúng mực qua một số công ` tA , À “ , trình nghiên cứu về ngôn ngữ học, văn hóa học. Trong cuốn “Tim vẻ ban sắc văn hóa Việt Nam”, chương Bốn, với nội dung “Van hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ”. tác giả Tran Ngọc Thêm đã tìm hiểu vẻ các đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người Việt, xét vẻ thái độ, quan hệ giao tiếp, đối tượng giao tiếp. chủ thé giao tiếp.
cách thức giao tiếp. Tác giả cho rằng người Việt có một hệ thông NTLN rất phong phú. Trước hết, đó là sự phong phú trong hệ thông xưng hô: các đại từ nhân xưng. các danh từ chỉ quan hệ họ hàng, danh từ chi nghề nghiệp chức vụ đề thay thé cho đại tir,.
Tác giả phân tích các đặc tính của nén văn hóa Việt qua hệ thông xưng hô: đặc tính trọng tình cảm, tính linh hoạt, tính cộng dong, tính đa nghĩa, tính tôn ty. trọng sự hòa thuận. Qua phân tích của tác gia, chúng ta thấy được sự phong phú cũng như màu sắc văn hóa giao tiếp trong hệ thông NTLN của người Việt. Nam 2015, trong luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp dạy học nghi thức lời nói cho học sinh tiêu học”, tác gid Tran Thị Thu Phương đã phân tích kĩ việc vận dụng lí thuyết hội thoại rén ki năng sử dụng NTLN cho HS tiểu học, đồng thời nêu ra những nguyên tắc day học, những biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS trong day học NTLN.
Nam 2016, luận văn thạc sĩ *Tich hợp giáo dục “Dao đức” cho học sinh qua các bài “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2” của tác giả Hà Thị Yến đã đưa ra quan điểm vé day học tích hợp và vẫn dé dạy NTLN trong mỗi quan hệ với các môn học khác, cụ thẻ là môn Đạo đức.