CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÈ TÀI 1. Những vấn đề chung về dạy học phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh lớp 2 1. Kỹ năng và kỹ năng ngôn ngữ 1.1L Kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” Đối với Từ điển Tâm lí học cho rằng: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững cách hành động dựa trên qui tác nào đó và hành động phù hợp với qui tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định ” [317, tr.Lêwifov (1971): “Kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả một tac động nào đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng đúng đắn các hình thức hành động ” [33, tr.6] - Các tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001) cho tằng: “ Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (Khái niệm, cách thức, phương pháp.) đề giải quyết một nhiệm vụ mới ” [28, t35r. Các quan điểm trên tuy có khác nhau, nhưng thực chất chúng không mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau.
Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một kỹ năng hành động trong các tình huống khác nhau. Như vậy ta có thê hiểu: Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả trong một hành động hay công việc nào đó để đạt được mục đích trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng phù hợp với những điều kiện nhất định. Kĩ năng ngôn ngữ Kĩ năng ngôn ngữ là một trong những kĩ năng đặc thù, là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Hiểu một cách đơn giản, &ĩ năng ngôn ngữ là kĩ năng biếu đạt rõ ràng và mạch lạc ÿ nghĩ và tình cảm của mình băng lời nói, cũng như 10 nét mặt, cử chỉ, và điệu bộ.
Người có kĩ năng ngôn ngữ là người giỏi về tiếng mẹ đẻ (ở đây là tiếng Việt) và thành thạo tiếng nước ngoài. Ở đây chỉ bàn đến kĩ năng ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh qua việc học môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học được xem là môn học chủ đạo có thể giúp học sinh phát triển kĩ năng ngôn ngữ. kĩ năng ngôn ngữ của học sinh gồm 3 kỹ năng sau: - Kĩ năng làm chủ ngôn ngữ tiếng Việt, đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ nhất định, hiểu và cảm nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, năm được quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp, chính tả; - Kĩ năng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, đòi hỏi học sinh phải biết sử dụng thuần thục tiếng Việt trong nhiều tình huống khác nhau, môi trường khác nhau và đối tượng khác nhau; - Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ đề tạo lập văn bản là kĩ năng rất quan trọng đối với học sinh trong nhà trường phô thông trong đó là ngôn ngữ tồn tại dưới dạng nói và viết.
Kỹ năng nghe: Có hai loại tình huồng nghe, là nghe tương tác và nghe không tương tác. Tình huống nghe tương tác bao gồm các hội thoại khi đối mặt hay gọi điện thoại. Trong tình huống này, hai bên thay nhau nói và nghe, người tham gia có cơ hội đề nghị người đối thoại làm rõ, nhắc lại hoặc nói chậm lại. Như vậy, kĩ năng nghe: gồm các yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kỹ thuật,.
Kỹ năng nói: Kỹ năng nói là sử dụng lời nói trong giao tiếp là kỹ năng để nói sao cho đạt được hiệu quả v à mục đích của cuộc giao tiếp. Kỹ năng nói có thé chia thành ba kiểu tình huống nói: tương tác, tương tác cục bộ, không tương tác. Tình huống tương tác bao gồm các hội thoại mặt đối mặt và các cuộc điện thoại, trong đó chúng ta lần lượt nghe và nói, chúng ta có cơ hội để đề nghị người đối thoại làm rõ, nhắc lại hoặc nói chậm hơn. Kỹ năng nói: gồm các yêu cầu về âm lượng, tốc độ, sự liên tục, cách diễn đạt, trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói,.
11 Kỹ năng đọc: Kỹ năng đọc là một loại kỹ năng mềm, giúp người đọc có thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhất. Cùng với nhu cầu đọc, hứng thú đọc thì kỹ năng đọc là yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa đọc. Kỹ năng viết: là năng lực của mỗi người nhằm thực hiện hành động viết văn bản đề đạt được một chủ đích về giao tiếp một cách hiệu quả. Kỹ năng viết là một phần quan trọng hợp thành kỹ năng giao tiếp hiệu quả.
Thông qua những lá thư, văn bản, người viết có thé tiếp cận lượng lớn người đọc. Từ đó, truyền đạt thông điệp, ý tưởng của bản thân một cách rõ ràng, cụ thé vé mat nội dung, kèm theo đó là tâm ý, tình cảm gửi gắm qua từng câu chữ. Đặc điểm phát triển kĩ năng ngôn ngữ của học sinh tiểu học Bắt đầu vào lớp l1, trẻ tiểu học tiếp cận với ngôn ngữ viết, bên cạnh ngôn ngữ nói trôi chảy từ những năm đầu đời. Kết thúc tiểu học, trẻ sử dụng ngôn ngữ viết thuần thục, dần hoàn thiện về chính tả, ngữ pháp.
Đến tuổi lên 5, đứa trẻ chậm phát triển ngôn ngữ hoặc lời nói thường thể hiện khó khăn trong suốt thời gian học phổ thông. Từ 7 tuổi trở đi, trẻ em trở nên khó học ngôn ngữ hơn khi quá trình tư duy của quá trình đã có sự phát triển (trẻ nhỏ thường có tính mềm dẻo cao, giúp hình thành các kết nối thần kinh khi học những điều mới mẻ. Khi một người cảng lớn, những kết nối mới giữa các nơron sẽ giảm, vì vậy tính mềm dẻo của não cũng bớt đáng kể). Dé hoạt động học tập được thực hiện tốt thì giáo viên cần động viên, khuyến khích các em.
Việc động viên khuyến khích thường xuyên, kịp thời giúp các em tự tin hơn từ đó phát triển những phẩm chất tâm lý tích cực, mang lại hiệu quả học tập tốt đẹp. Việc tìm ra những biện pháp và hình thức tổ chức phù hop dé phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh tiêu học nói chung, trước hết là học sinh lớp 2 là hết sức cần thiết để góp phần thực hiện mục tiêu của môn học và bậc học này. Kết thúc bậc tiểu học, học sinh đạt được trình độ phổ cập về ngôn ngữ, thể hiện ở kĩ năng nghe, đọc, nói, viết. Học sinh biết đọc, biết viết dần dần làm thay đối sâu sắc hoạt động ngôn ngữ và nhận thức.
Biểu hiện rõ nhất của sự kiện này 12 là trẻ tiểu học ham đọc, mê đọc, đọc mọi lúc, mọi nơi, mọi thứ. Kĩ năng nói và dạy học phát triển kỹ năng nói cho học sinh trong dạy học tiếng Việt 1. Khái quát chung về kĩ năng nói Nói cũng là một loại hoạt động diễn ra thường xuyên của con người - đây là hoạt động chuyền nội dung suy nghĩ, nội dung thông báo của người nói vốn thuộc lĩnh vực tinh thần sang dạng vật chất, dạng mã hóa ngôn ngữ. Nói là sự giao tiếp bằng âm thanh, là sự truyền tải thông tin dưới dạng âm thanh giữa người này với người kia.
Nói còn là sự thể hiện của những mối quan hệ giữa con người với cộng đồng và xã hội. Giao tiếp bao giờ cũng có ít nhất hai người: người nói và người nghe (Speaker I - SPI1 và speaker - SP2). Trong cuộc giao tiếp, mặt đối mặt, hai vai nói - nghe thường đổi vai cho nhau: Vai nói, sau khi nói xong, chuyển thành vai nghe và ngược lại. Phát triển kỹ năng nói là phát triển khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ ở dạng âm thanh một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tôn trọng người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đồi, thảo luận.
Chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn đã đề cập: “Năng lực ngôn ngữ là khả năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,.) dé doc, viết, nói và nghe. Kỹ năng này được hình thành và phát triển vừa thông qua thực tiễn giao tiếp của học sinh với tư cách người bản ngữ vừa thông qua việc vận dụng các kiến thức cơ bản về tiếng Việt để giao tiếp hiệu quả trong các tình huống cụ thể” [1 1]. Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hóa các thông tin (những suy nghĩ, tri thức.) trong đầu con người (giáo viên đạy học, người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyên tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt). Trong dạy học, những thông tin từ giáo viên sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng ý tưởng của giáo viên, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của giáo viên, lưu trữ các thông tin từ giáo viên, giao tiếp giữa người học với nhau.
Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của giáo viên còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, câu trúc câu sao cho lời nói được biêu đạt ngăn gọn, trong sáng, súc tích, giàu 13 hình ảnh (kế cả tinh cam), dé hiểu và mang tính thuyết phục cao. Hoạt động nói có thể chia thành ba kiểu tình huống nói: nói có tương tác, tương tác cục bộ và nói không tương tác. Vấn đề về phát triển kĩ năng nói cho học sinh trong dạy học tiếng Việt Chương trình GDPT 2018, môn Ngữ văn là môn học bắt buộc thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12. Ở tiểu học môn học này được gọi là môn Tiếng Việt, mỗi năm học 35 tuần với số tiết học cho mỗi lớp là: lớp 1 (420 tiết), lớp 2 (350 tiết), lớp 3 (280 tiết), lớp 4 (245 tiết), lớp 5 (245 tiết).
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có trình độ hiểu biết, nhận thức cao, ngôn ngữ nói càng vươn lên gần với ngôn ngữ viết, tuy không bao giờ đồng nhất với ngôn ngữ viết. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành kĩ năng sử dụng từ ngôn ngữ nói sang viết, (nghe) nói tốt sẽ chuyển sang (đọc) viết nhanh hơn. Giao tiếp bằng lời (khâu ngữ) đòi hỏi có sự trao lời, đáp lời và sự tương tác giữa người nói và người nghe. Người ta phải nghe hiểu nội dung giao tiếp, biết dién đạt suy nghĩ, tình cảm của mình; giao tiếp bằng chữ lại có những đòi hỏi đặc trưng khác.
Vì vậy, phát triển kỹ năng nói giúp học sinh có thói quen tạo sự phức hợp về ý tưởng, khả năng thuyết phục người nghe.