Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGỮ LIỆU DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC 1. Dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc 1. Năng lực và cấu trúc của năng lực 1. Năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “Competentia”.
Ngày nay, có nhiều định nghĩa về năng lực được đưa ra: Weinert (2001) cho rằng “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.” Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2010) định nghĩa “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”. Quan niệm trong chương trình GD của Quebec- Canada (2013) thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.” Nói chung, các định nghĩa được đưa ra ở trên giúp chúng ta hiểu về năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện một hành động nào đó hiệu quả trong những tình huống, bối cảnh cụ thể. Điều này phù hợp khi xếp năng lực vào phạm trù hoạt động trong tài liệu hội thảo chương trình GDPT tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo sau năm 2018: “ Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu, năng lực cũng bao gồm các yếu tố cá nhân sẵn có kết hợp những điều được học, được rèn luyện bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái Luan van 9 độ để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập, đồng thời giải quyết các vấn đề có liên quan trong cuộc sống một cách hiệu quả.
Khi nói đến năng lực, người ta sẽ quan tâm đến năng lực hành động, năng lực thực hiện một nhiệm vụ nào đó xác định dựa vào kiến thức, kĩ năng, thái độ. Tuy nhiên, bản thân năng lực không phải là hành động mà kết quả của hành động sẽ là cơ sở đánh giá năng lực. Cấu trúc năng lực Mô hình của các nhà sư phạm nghề Đức: Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình.
Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực, nội dung chuyên môn“, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn. - Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thànhviên khác. - Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi. Luan van 10 Những năng lực trên kết hợp hài hòa, gằn bó chặt chẽ với nhau để tạo thành năng lực hành động- năng lực đầu ra được đánh giá, chú trọng sau quá trình học tập và rèn luyện. Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau.
Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Năng lực theo OCED (Oganization for Economic Cooperation and Development - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế): Người ta phân chia năng lực thành hai nhóm chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn. Nhóm năng lực chung gồm những năng lực: - Khả năng hoạt động độc lập thành công. - Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ.
- Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất. NL chuyên môn liên quan đến từng môn học chuyên biệt. Trong lĩnh vực dạy và học: Để đánh giá năng lực của người học có thể dựa vào cách phân chia cấu trúc năng lực mà Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016) đã chỉ ra hai cách tiếp cận cấu trúc năng lực là: Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành và tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận. - Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành: Năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động… - Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận (đơn vị của năng lực): Năng lực được cấu thành từ những yếu tố sau: các hợp phần của năng lực (là các lĩnh vực chuyên môn thể hiện khả năng tiềm ẩn của con người); các thành tố của năng lực (là các kĩ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ hoạt động); tiêu chí thực hiện (là yêu Luan van 11 cầu cần thực hiện của mỗi thành tố, được gọi là các chỉ số hành vi); và mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó được gọi là “tiêu chí chất lượng”.
Để đánh giá kết quả học tập chính xác thì phân chia cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận sẽ bổ sung cho cách phân chia năng lực theo nguồn lực hợp thành. Bởi vì khi các năng lực bộ phận được thể hiện qua các hành vi biểu hiện thì dễ dàng xác định được kiến thức, kĩ năng, thái độ,… (yếu tố đầu vào - nguồn lực) tạo thành năng lực đó.” Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau: - Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành; - Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực; - Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.; - Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp; - Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống.; - Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học; - Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề; - Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì? Luan van 12 Dựa vào khái niệm năng lực của chương trình GDPT sau năm 2018 và cách phân chia cấu trúc năng lực của các tác giả trên, chúng tôi chọn cách phân chia cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận. Bởi vì, năng lực càng được xác định thành các dấu hiệu cụ thể, được bộc lộ qua hành động thì việc đánh giá năng lực của người học càng dễ dàng, chính xác và thuận tiện hơn. Năng lực đọc 1.
Quan niệm về đọc Để sử dụng tiếng Việt thành thạo, người học cần được rèn luyện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong đó, đọc được xem một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đọc giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và trong cả đời sống. Hiện nay, có khá nhiều những quan niệm về đọc được các tác giả đưa ra: Theo Smith (1971), “Đọc là quá trình giải mã ý nghĩa của văn bản đọc chứ không phải là giải mã âm thanh.
Việc chuyển từ chữ viết sang âm thanh chỉ là một hoạt động có tính chất cầu nối trong tiến trình giải mã văn bản đọc”. Ông đã khẳng định đích đến cuối cùng của đọc đó là truy tìm ý nghĩa, thông điệp của VB. Trong cuốn Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga (1988), Viện sỹ M.Lơvôp đã định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”. Đây là một định nghĩa được cho rằng rất phù hợp với dạy học Tập đọc ở TH.
Định nghĩa cho biết đọc không chỉ là giải mã chữ viết- âm thanh mà còn là thông hiểu những gì được đọc thể hiện trên mặt chữ viết đó. Ross Latham và Peter Sloan (1986) cho rằng “Đọc được xem như là một hoạt động xử lí thông tin của VB viết - dạng ngôn ngữ chứa thông tin mà chỉ có giá trị đối với những ai thông dịch (hiểu) được dạng ngôn ngữ đó”. Tác giả cũng nói đến việc thông hiểu những gì được đọc qua bề mặt chữ viết mà để đạt được điều này, trước tiên người đọc cũng phải nhận ra được sự tương hợp giữa chữ viết và âm thanh.