Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Môi trường là hoàn cảnh sống xung quanh, luôn có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển mọi mặt đời sống con người. Vì vậy môi trường đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Nhận thức được môi trường có ảnh hưởng đến năng xuất lao động, các nhà tâm lý học lao động tập trung nghiên cứu môi trường vĩ mô, những điều kiện như: Nhiệt độ, màu sắc, âm thanh, ánh sáng, khung cảnh, mối quan hệ liên nhân cách của nhóm nhỏ; những yếu tố, điều kiện, hoàn cảnh tác động mạnh đến chất lượng công việc. Các nghiên cứu xã hội học trên thế giới cho rằng yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn. Về môi trường dạy - học, trước hết phải kể đến những nghiên cứu của I. Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động.
Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác động môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu,.) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi. Đây là cơ sở lý thuyết để xây dựng kiểu dạy học chương trình hóa, dạy học bằng máy. Từ nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà giáo dục đã nhận thức được một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố thực tế đã 7 kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn.
Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại [17]. Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng một môi trường con khỉ 10 tháng tuổi và cậu bé trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh hưởng của môi trường đến con khỉ và con người. Đã có nhiều ví dụ để chúng ta hiểu về vai trò của môi trường sống đối con vật hoặc con người, không thể làm thay đổi bản năng của con vật. Ngược lại môi trường của loài vật có thể tác động mạnh vào bản chất của con người.
Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác - cơ đã nói: “Người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo dục”. Điều này khẳng định vai trò của yếu tố môi trường văn hóa, môi trường giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người. Cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện phương pháp xác định trẻ sinh đôi cùng trứng, đã xuất hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường và di truyền đối với sự hình thành nhân cách con người. Ở Liên Xô cũ có công trình của I.I Canaev (1959), kết quả nghiên cứu đó được công bố trong tác phẩm Trẻ sinh đôi.
Sau đó vấn đề được tiếp tục bởi Đ. Nhiều nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lý học mới: Tâm lý học môi trường và thường được khái quát trong các tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học. Quan điểm chung của khoa học giáo dục (bao gồm cả tâm lý học) đều khẳng định vai trò quyết định của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Tiếp đó, là vấn đề nghiên cứu, xây dựng môi trường với mục đích để có ảnh hưởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ. Về môi trường dạy học, trước hết phải kể đến những nghiên cứu của I.Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều 8 kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động.Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác động môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu…) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi. Đây là cơ sở lý thuyết để xây dựng kiểu dậy học chương trình hóa, dạy học bằng máy.
Từ nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà giáo dục đã nhận thức một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sang tạo hơn. Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại. Trong đó, mô hình quen thuộc: Người dạy - Người học - Tri thức được chuyển thành Người dạy - Người học - Môi trường. Tác giả coi môi trường là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra các hoạt động dạy học.
Đặc biệt, tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc học, các yếu tố môi trường của việc dạy. Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: Môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học và người dạy phải thích nghi với môi trường. Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường. Từ đầu thế kỷ XX, Dimitri Glinos đã viết “…Giáo dục phải thích ứng với những hoàn cảnh luôn thay đổi, đối phó với những vấn đề mới, những nhu cầu mới và thường xuyên đòi hỏi những kỹ năng mới… Trong một thời gian dài, nền giáo dục đã không thể thích ứng được với các hoàn cảnh mới và gắn với các nhu cầu thực tế.
Khoảng cách giữa giáo dục và cuộc sống ngày càng lớn và bây giờ, điều chúng ta cần không chỉ là một cuộc cách mạng để tái lập lại mối tương quan giữa giáo dục và cuộc sống [20,tr. 9 Emile DurKheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học và việc tổ chức lớp học, như một sự liên kết có phạm vi rộng hơn gia đình và không trìu tượng như xã hội. Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ. Trong lớp học, học sinh suy nghĩ, hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách rời nhau… Những quan niệm trên đây đã có trước hàng thế kỷ, hiện nay đang trở thành vấn đề thời sự của khoa học giáo dục.
Các nghiên cứu trong nước Môi trường giáo dục không phải đến ngày nay mới được quan tâm. Câu chuyện “Mạnh mẫu giáo tử” phải 3 lần chuyển chỗ ở tìm đến nơi tốt để định cư nhằm cho con mình được hưởng một môi trường giáo dục thuận lợi. Nhiều người Việt Nam biết đến và vận dụng câu tục ngữ “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” cũng muốn nói đến một mặt mối quan hệ với con người trong một môi trường giáo dục trẻ. Giá trị của câu chuyện và câu tục ngữ trên ở chỗ đã đề cao môi trường sống trong quá trình phát triển của trẻ.
Với trẻ em ba môi trường: nhà trường - gia đình - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình học tập, trưởng thành và hoàn thiện nhân cách. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng được môi trường học tập thân thiện (MTHTTT) ở các trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đường lối, chính sách của Đảng thực sự là những định hướng quan trọng ở tầm vĩ mô, chỉ đạo toàn diện công tác nâng cao chất lượng giáo dục. Trường học thân thiện là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICFF) đề sướng từ thập kỷ cuối của thế kỷ trước và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ GD&ĐT đã có chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013. Bộ Giáo dục và đào tạo đã làm thí điểm nhiều năm ở 50 trường tiểu học và Trung 10 học cơ sở. Từ kết quả thí điểm, Bộ chủ trương tiến hành đại trà từ năm học 2008 - 2009 ở tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong toàn quốc, đến nay được thực hiện ở tất cả các bậc học, cấp học.[4] Nhiều hội thảo khoa học và công trình nghiên cứu khoa học về xây dựng MTHTTT ở các trường tiểu học. Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế, của chính phủ đã hỗ trợ tích cực cho nhiệm vụ này.
Tác giả Phạm Hồng Quang đã nghiên cứu về môi trường văn hóa giáo dục, mối quan hệ của nó với môi trường kinh tế và chỉ ra những tiêu chí để xây dựng môi trường văn hóa giáo dục trong các nhà trường.[26] Trường học thân thiện là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICFF) đề sướng từ thập kỷ cuối của thế kỷ trước và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ giáo dục và đào tạo đã làm thí điểm nhiều năm ở 50 trường tiểu học và Trung học cơ sở. Từ kết quả thí điểm, Bộ chủ trương tiến hành đại trà từ năm học 2008 - 2009 ở tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong toàn quốc, đến nay được thực hiện ở tất cả các bậc học, cấp học.[2] Mô hình này không hoàn toàn mới đối với nền giáo dục nước ta. Từ những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, với triết lý “đời sống học đường là cuộc sống thực của trẻ em ngay ngày hôm nay, lúc này; chứ không chỉ chuẩn bị cho tương lai”, nên phương châm “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” đã được phổ biến và áp dụng từ những ngày đó.