Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình dạy học tại các trường đại học và phổ thông, hoạt động kiểm tra - đánh giá giữ vai trò là một khâu hợp thành then chốt và là giai đoạn kết thúc của chu trình giáo dục. Xét về mặt lý luận dạy học, kiểm tra cung cấp mối liên hệ ngược nhằm phản hồi thông tin về chất lượng dạy của giảng viên và mức độ lĩnh hội của người học, từ đó tạo căn cứ điều chỉnh hoạt động sư phạm đạt hiệu quả tối ưu. Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục cho thấy công tác kiểm tra - đánh giá truyền thống (bao gồm thi tự luận, kiểm tra miệng, kiểm tra thực hành) còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: mang tính phiến diện, người dạy giữ độc quyền đánh giá, đề thi không bao quát toàn bộ chương trình, dễ dẫn đến hiện tượng học sinh học tủ, học lệch và kết quả phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người chấm.
Xu thế đổi mới giáo dục tại Việt Nam đặt ra yêu cầu ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan nhằm đảm bảo tính toàn diện, độ tin cậy, sự công bằng và hỗ trợ chấm thi tự động bằng máy tính. Tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Khoa Hóa học, sinh viên thời điểm thực hiện đề tài còn ít được tiếp cận với hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan trong các học phần chuyên ngành. Nhằm giải quyết thực trạng này, tác giả Nguyễn Minh Tấn thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân với đề tài: "Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương các nguyên tố nhóm IVA cho sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh", dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy Mai Văn Ngọc.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đề xuất việc áp dụng hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của sinh viên Khoa Hóa học đối với bộ môn Hóa vô cơ.
- Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA" nhằm đánh giá kết quả học tập, trình độ nhận thức của sinh viên, đồng thời xây dựng ngân hàng câu hỏi phục vụ giảng dạy bộ môn Hóa vô cơ.
- Nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học nói chung và học phần Lý thuyết hóa nguyên tố nói riêng cho sinh viên sư phạm.
- Nâng cao năng lực biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho sinh viên phục vụ công tác giảng dạy sau khi tốt nghiệp.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo 5 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá trong giáo dục.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.
- Tiến hành soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn cho chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA" (trọng tâm là cacbon và silic) theo đúng các nguyên tắc kỹ thuật trắc nghiệm.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm khảo sát, đánh giá hệ thống câu hỏi đã biên soạn và đo lường trình độ của sinh viên.
- Phân tích các chỉ số thống kê thu được từ dữ liệu thực nghiệm để chỉnh sửa, hoàn thiện hệ thống câu hỏi, nâng cao độ tin cậy và độ giá trị của công cụ đo lường.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy và học môn Lý thuyết hóa nguyên tố (phần phi kim loại, chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA"). Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm thứ II (các lớp Hóa 2A, 2B, 2C) và sinh viên năm thứ III (lớp Hóa Bình Thuận - Vũng Tàu) thuộc Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc thiết kế và thẩm định bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ngân hàng câu hỏi môn Lý thuyết hóa nguyên tố. Giả thuyết khoa học của đề tài khẳng định: nếu xây dựng thành công hệ thống câu hỏi trắc nghiệm có độ phân cách tốt, hệ số tin cậy cao, bám sát trọng tâm và mở rộng liên hệ thực tiễn thì việc kiểm tra đánh giá sinh viên sẽ diễn ra khách quan, chính xác và nhanh chóng hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên lý thuyết đo lường đánh giá cổ điển trong giáo dục kết hợp với kiến thức chuyên ngành Hóa vô cơ. Về mặt lý thuyết trắc nghiệm, tác giả phân loại các phương pháp đo lường thành 3 dạng chính: quan sát, vấn đáp và viết (bao gồm trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan). Dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (multiple-choice questions) được lựa chọn làm trọng tâm nghiên cứu với cấu trúc gồm hai thành phần: phần gốc (câu hỏi hoặc câu bỏ lửng) và phần lựa chọn (gồm 1 đáp án đúng duy nhất và 3 đến 4 mồi nhử/câu nhiễu).
| Tiêu chí so sánh |
Phương pháp trắc nghiệm khách quan |
Phương pháp tự luận |
| Quy mô khảo sát |
Phù hợp với số lượng thí sinh rất đông |
Phù hợp khi số lượng thí sinh không quá lớn |
| Mức độ bao phủ kiến thức |
Đề thi phủ kín toàn bộ nội dung môn học, ngăn ngừa học tủ |
Đề thi chỉ kiểm tra được một số chủ đề chọn lọc |
| Tính khách quan khi chấm |
Điểm số tuyệt đối khách quan, không phụ thuộc người chấm |
Phụ thuộc vào trình độ và tâm lý chủ quan của người chấm |
| Kỹ năng tư duy đo lường |
Khảo sát phạm vi hiểu biết rộng, tư duy nhận biết, hiểu, suy luận nhanh |
Đánh giá sâu cách diễn đạt, lập luận và khả năng sáng tạo ý tưởng |
| Công sức và thời gian |
Tốn nhiều thời gian biên soạn, chấm bài rất nhanh |
Soạn đề nhanh, tốn nhiều thời gian và công sức chấm bài |
Quy trình quy hoạch bài trắc nghiệm được tác giả hệ thống hóa qua 4 bước phân tích nội dung, xây dựng ma trận hai chiều (table of specifications) kết hợp giữa nội dung kiến thức và các cấp độ nhận thức (biết, hiểu, vận dụng). Khóa luận tổng quan các thang điểm quy đổi trong đánh giá giáo dục:
- Điểm thô (Raw scores): Tổng điểm đạt được từ các câu đúng.
- Điểm phần trăm đúng: $X = 100 \times \frac{D}{T}$ (với $D$ là số câu đúng, $T$ là tổng số câu).
- Điểm chữ: Điểm A ($90% - 100%$), Điểm B ($80% - 89%$), Điểm C ($70% - 79%$).
- Điểm Z (Z-score): $Z = \frac{X - \bar{X}}{s}$ (chuẩn hóa với trung bình bằng 0 và độ lệch chuẩn bằng 1).
- Điểm tiêu chuẩn V mới: $V = 2Z + 5$ (chuyển đổi phù hợp với thang điểm 10 tại Việt Nam).
Để đánh giá chất lượng của từng câu hỏi và toàn bộ bài kiểm tra, tác giả sử dụng hệ thống các chỉ số thống kê toán học chuyên dụng:
- Độ khó của câu ($\text{Mean}$): Tỷ lệ số thí sinh làm đúng câu $i$ trên tổng số thí sinh tham gia.
- Độ khó vừa phải của câu ($\text{ĐKVP}$): Với bài trắc nghiệm 4 lựa chọn (xác suất may rủi $25%$), $\text{ĐKVP} = \frac{100% + 25%}{2} = 62{,}5%$ ($0{,}625$).
- Độ lệch tiêu chuẩn của câu ($SD$): Đo lường mức độ phân tán của điểm số quanh giá trị trung bình.
- Điểm trung bình nhóm làm đúng ($M_p$) và nhóm làm sai ($M_q$): So sánh tổng điểm trung bình toàn bài của những người làm đúng và làm sai câu hỏi khảo sát.
- Độ phân cách câu: Đo bằng hệ số tương quan điểm - nhị phân ($R_{pbis}$ hoặc Pt-biserial) và chỉ số độ phân cách $D = \frac{C - T}{n}$ (với $C$ là số người nhóm điểm cao làm đúng, $T$ là số người nhóm điểm thấp làm đúng, $n = 27% N$). Tiêu chuẩn đánh giá câu hỏi:
| Chỉ số độ phân cách ($D$ hoặc $R_{pbis}$) |
Đánh giá chất lượng câu trắc nghiệm |
| Từ 0,40 trở lên |
Câu hỏi có độ phân cách rất tốt, giữ lại sử dụng |
| Từ 0,30 đến 0,39 |
Câu hỏi có độ phân cách tốt, sử dụng tốt |
| Từ 0,20 đến 0,29 |
Câu hỏi có độ phân cách tạm được, cần chỉnh sửa nhẹ |
| Dưới 0,19 |
Câu hỏi kém, cần loại bỏ hoặc chỉnh sửa toàn diện |
- Chỉ số đánh giá bài trắc nghiệm: Trung bình lý thuyết ($\text{Mean LT} = \text{Số câu} \times \text{ĐKVP}$), Trung bình thực tế ($\text{TBTT}$), Độ khó bài test ($\frac{\text{TBTT}}{n} \times 100%$), Khoảng biên tin cậy $95%$ ($A = \text{Mean} - 1{,}96 \frac{SD}{\sqrt{N}}$ đến $B = \text{Mean} + 1{,}96 \frac{SD}{\sqrt{N}}$), Hệ số độ tin cậy Kuder - Richardson KR-20 ($r_{tt} = \frac{k}{k-1} \left[1 - \frac{\sum pq}{S_x^2}\right]$), và Sai số tiêu chuẩn của đo lường ($\text{SEM} = S_x \sqrt{1 - r_{tt}}$).
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 150 sinh viên Khoa Hóa học (Trường ĐHSP TP.HCM) làm bài kiểm tra gồm 70 câu hỏi trong 100 phút. Dữ liệu bài thi được chấm bằng phương pháp đục lỗ và xử lý thống kê bằng phần mềm "Test thống kê" do TS. Lý Minh Tiên (Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường ĐHSP TP.HCM) phát triển.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I - Chương I: Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về trắc nghiệm giáo dục, phân biệt các hình thức trắc nghiệm (ghép đôi, điền khuyết, đúng - sai, nhiều lựa chọn). Tác giả đi sâu vào kỹ thuật biên soạn câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, nêu rõ các yêu cầu kỹ thuật: phần gốc phải rõ ràng, chỉ diễn đạt một ý chính; số phương án lựa chọn từ 4 đến 5; các mồi nhử phải hợp lý, có độ dài tương đương, tránh dùng các phương án "tất cả đều đúng" hoặc "tất cả đều sai"; vị trí đáp án đúng phân bố ngẫu nhiên. Chương này cũng phân tích chi tiết quy trình lập ma trận đề thi hai chiều và các phương pháp chuyển đổi điểm số từ điểm thô sang điểm phần trăm, điểm Z và thang điểm tiêu chuẩn V.
Phần I - Chương II: Các thông số phân tích, đánh giá kết quả trắc nghiệm
Nội dung chương tập trung xác lập cơ sở toán thống kê để phân tích chất lượng đo lường. Tác giả trình bày chi tiết công thức toán học và tiêu chuẩn thẩm định đối với từng chỉ số cấp độ câu (độ khó Mean, độ khó vừa phải ĐKVP, tương quan điểm - nhị phân $R_{pbis}$, độ phân cách $D$, hiệu quả của các mồi nhử) và cấp độ bài (Mean LT, TBTT, độ lệch chuẩn $SD$, hệ số tin cậy KR-20, sai số SEM). Các tiêu chuẩn chọn câu hỏi tốt được quy định chặt chẽ: không chọn câu có độ phân cách âm hoặc quá thấp ($< 0{,}19$), loại bỏ câu quá dễ hoặc quá khó, đảm bảo mồi nhử thu hút nhóm sinh viên yếu nhiều hơn nhóm sinh viên giỏi và hệ số tin cậy toàn bài phải đạt trên $0{,}60$.
Phần II - Chương I: Soạn thảo đề trắc nghiệm
Chương này mô tả quy trình xây dựng công cụ khảo sát thực nghiệm. Tác giả biên soạn tổng cộng 98 câu hỏi trắc nghiệm bao quát lý thuyết chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA", tập trung vào cacbon, silic, các hợp chất oxit, axit, muối cacbonat, phức cacbonyl, silan và các ứng dụng thực tế. Từ 98 câu, tác giả chọn lọc 70 câu hỏi đạt chuẩn để thiết kế đề kiểm tra, xáo trộn thành 4 mã đề (Đề 1, 2, 3, 4). Bộ đề được thẩm định chuyên môn bởi giảng viên hướng dẫn trước khi in ấn kèm phiếu trả lời trắc nghiệm riêng biệt. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên 150 sinh viên thuộc hai nhóm: Nhóm 1 (sinh viên chính quy các lớp Hóa 2A, 2B, 2C) và Nhóm 2 (sinh viên hệ ngoài sư phạm/liên kết Hóa 3 Bình Thuận - Vũng Tàu), thời gian làm bài 100 phút (5 phút hướng dẫn). Khóa luận trình bày toàn văn hệ thống 70 câu hỏi trắc nghiệm của Đề 1 kèm đáp án chuẩn.
Phần II - Chương II: Kết quả phân tích
Chương này trình bày kết quả tính toán định lượng từ phần mềm "Test thống kê" cho từng câu hỏi và so sánh giữa hai nhóm sinh viên. Tác giả tiến hành mổ xẻ cấu trúc từng câu từ Câu 1 đến Câu 12:
| Câu số |
Nội dung kiến thức khảo sát |
$\text{Mean}$ (Toàn nhóm) |
$\text{ĐKVP}$ |
$R_{pbis}$ (Nhóm 1) |
$R_{pbis}$ (Nhóm 2) |
Đánh giá kỹ thuật và hướng xử lý |
| Câu 1 |
Tính chất lí hóa tương tự giữa $CO$ và $N_2$ |
0,380 |
0,625 |
0,328 |
0,077 |
Khó; $R_{pbis}$ Nhóm 1 tốt, Nhóm 2 kém; mồi nhử D có tương quan dương do sinh viên chọn sai đặc điểm electron; giữ lại khảo sát thêm. |
| Câu 2 |
Khoảng cách $C-O$ trong phức cacbonyl kim loại |
0,267 |
0,625 |
0,240 |
0,292 |
Khó; độ phân cách tạm được ($R_{pbis} = 0{,}245$); mồi nhử C tương quan dương; đề xuất thay đổi mồi nhử D để hoàn thiện. |
| Câu 3 |
Phương trình phản ứng sai của silic |
0,340 |
0,625 |
0,213 |
0,155 |
Khó; độ phân cách kém ($R_{pbis} = 0{,}191$); sinh viên nhầm lẫn phản ứng $Si + P \rightarrow SiP$; đề xuất chỉnh sửa mồi nhử A và C. |
| Câu 4 |
Nguyên nhân độ bền của kim cương |
0,207 |
0,625 |
0,113 |
-0,331 |
Khó; độ phân cách kém; mồi nhử D vô hiệu ($0%$ chọn), mồi nhử B gây nhiễu sai; đề xuất sửa mồi nhử B thành cấu trúc lập phương tâm diện. |
| Câu 5 |
Độ bền nhiệt của các hiđrua $XH_4$ nhóm IVA |
0,500 |
0,625 |
0,141 |
0,414 |
Khó; Nhóm 2 phân cách rất tốt ($0{,}414$), Nhóm 1 kém; chuyển câu hỏi sang dạng đếm số lý do đúng. |
| Câu 6 |
Sản xuất $CaC_2$ kĩ thuật trong công nghiệp |
0,433 |
0,625 |
0,240 |
0,072 |
Khó; độ phân cách kém ($0{,}170$); câu hỏi thuần ghi nhớ; cần khảo sát thêm trước khi kết luận. |
| Câu 7 |
Cấu hình electron và cấu tạo phân tử $CO$ |
0,600 |
0,625 |
0,256 |
0,112 |
Vừa sức ($\text{Mean} \approx \text{ĐKVP}$); độ phân cách tạm được; đề xuất cấu trúc lại các mồi nhử gây nhiễu. |
| Câu 8 |
Phản ứng của silic ở nhiệt độ $600^\circ\text{C}$ |
0,807 |
0,625 |
0,316 |
0,154 |
Dễ ($\text{Mean} > \text{ĐKVP}$); $R_{pbis}$ Nhóm 1 tốt; mồi nhử A vô hiệu ($0%$ chọn); đề xuất thay phương án để nâng độ khó. |
| Câu 9 |
Sự tăng nồng độ $\text{CO}_2$ và thảm họa sinh thái |
0,820 |
0,625 |
0,211 |
0,113 |
Quá dễ; độ phân cách kém; câu hỏi mang tính hiểu biết đời sống phổ thông, không trọng tâm; đề xuất loại bỏ. |
| Câu 10 |
Phản ứng điều chế silic trong phòng thí nghiệm |
0,300 |
0,625 |
0,050 |
0,080 |
Khó; độ phân cách kém; đề xuất thay thế phương án phản ứng $SiO_2 + CaC_2$. |
| Câu 11 |
Phương pháp tạo thành dạng thù hình cacbin |
0,207 |
0,625 |
0,032 |
0,224 |
Khó; độ phân cách kém; kiến thức không trọng tâm, sinh viên đoán mò; giữ lại khảo sát thêm. |
| Câu 12 |
Lai hóa $sp^3$ và cấu trúc tinh thể kim cương |
0,807 |
0,625 |
0,167 |
0,245 |
Dễ; độ phân cách kém; cần điều chỉnh các phương án mạng tinh thể để tăng độ phân biệt. |
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hoàn thành việc xây dựng và kiểm định chất lượng bộ công cụ đánh giá với các kết quả cụ thể:
- Xây dựng bộ câu hỏi chuyên đề chuẩn hóa: Thiết kế thành công hệ thống 70 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn cho chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA", bao quát toàn diện các mảng kiến thức: cấu tạo nguyên tử, tính chất đơn chất (kim cương, than chì, cacbin, silic vô định hình và tinh thể), hợp chất oxit ($CO, CO_2, SiO_2$), axit cacbonic, axit silixic, muối cacbonat, silicat, phức chất cacbonyl, hợp chất hiđrua (silan) và các quy trình công nghệ hóa học thực tế.
- Dữ liệu thực nghiệm định lượng chi tiết: Khảo sát thực nghiệm trên mẫu 150 sinh viên tại Trường ĐHSP TP.HCM, cung cấp bức tranh số liệu rõ ràng về tương quan điểm số giữa sinh viên hệ chính quy và hệ ngoài sư phạm. Đa số các câu hỏi có độ khó cao hơn so với năng lực sinh viên ($\text{Mean} < \text{ĐKVP} = 0{,}625$), phản ánh hạn chế của sinh viên trong khả năng suy luận cơ chế hóa học và kiến thức đại cương (cấu hình electron, thuyết lai hóa, thuyết MO).
- Giải pháp chỉnh sửa và tối ưu hóa câu hỏi: Tác giả phân tích chi tiết từng mồi nhử dựa trên chỉ số Pt-biserial. Đối với các mồi nhử không có sinh viên nào chọn ($0%$), tác giả đề xuất loại bỏ hoặc thay thế bằng các chất/phương trình có tính hợp lý hơn. Đối với các mồi nhử có hệ số tương quan thuận (dương) - dấu hiệu sinh viên khá giỏi bị đánh lừa bởi bẫy không hợp lý, tác giả đã viết lại nội dung phương án để phản ánh đúng bản chất hóa học, chuyển đổi hình thức hỏi từ nhận biết sang câu hỏi đếm lý do đúng/sai.
- Đóng góp về phương pháp luận và tài liệu: Khóa luận cung cấp một quy trình mẫu về việc kết hợp lý thuyết đo lường giáo dục hiện đại với chuyên ngành Hóa học, đóng góp vào ngân hàng đề thi của Khoa Hóa học và cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm rèn luyện kỹ năng ra đề trắc nghiệm trước khi bước vào nghề dạy học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế được xác định dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài mới chỉ tập trung xây dựng hệ thống câu hỏi cho một chương đơn lẻ (chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA", tập trung vào cacbon và silic) trong chương trình môn Lý thuyết hóa nguyên tố, chưa mở rộng sang các phân nhóm chính khác (nhóm IA, IIA, IIIA, VA, VIA, VIIA) và các phân nhóm phụ.
- Quy mô thực nghiệm giới hạn ở 150 sinh viên thuộc hai hệ đào tạo tại một cơ sở giáo dục (Trường ĐHSP TP.HCM).
- Một số câu hỏi sau thực nghiệm bộc lộ độ phân cách thấp ($R_{pbis} < 0{,}19$) hoặc quá dễ/quá khó, cần tiếp tục trải qua nhiều chu kỳ thực nghiệm để hoàn thiện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả định hướng:
- Tiếp tục khảo sát thực nghiệm các câu hỏi đã qua chỉnh sửa trên các khóa sinh viên tiếp theo để chuẩn hóa hoàn toàn các thông số kỹ thuật.
- Ứng dụng quy trình biên soạn và thẩm định của đề tài để phát triển ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm toàn diện cho toàn bộ học phần Lý thuyết hóa nguyên tố và các môn học khác trong chương trình đào tạo Cử nhân Hóa học.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng cụ thể đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên bộ môn Hóa vô cơ: Có thể sử dụng trực tiếp 70 câu hỏi trắc nghiệm đã được phân tích thông số định lượng để xây dựng đề kiểm tra định kỳ, thi kết thúc học phần hoặc tích hợp vào ngân hàng câu hỏi chung của nhà trường.
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học và Cử nhân Hóa học: Nguồn tài liệu hệ thống hóa kiến thức chuyên sâu về nhóm IVA; đồng thời là cẩm nang thực hành trực quan giúp sinh viên nắm vững kỹ thuật thiết kế câu hỏi nhiều lựa chọn, kỹ thuật phân tích mồi nhử và cách xử lý số liệu trắc nghiệm.
- Cán bộ nghiên cứu khảo thí và đo lường giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về quy trình ứng dụng Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (CTT), việc sử dụng phần mềm phân tích bài test và phương pháp kết hợp toán thống kê trong cải tiến chất lượng đề kiểm tra.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô và đối tượng khảo sát thực nghiệm của khóa luận được tiến hành như thế nào?
Khóa luận tiến hành khảo sát trên 150 sinh viên Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, chia thành hai nhóm đối tượng: Nhóm 1 gồm sinh viên chính quy các lớp Hóa 2A, 2B, 2C và Nhóm 2 gồm sinh viên hệ ngoài sư phạm/liên kết thuộc lớp Hóa 3 Bình Thuận - Vũng Tàu.
2. Tác giả sử dụng công cụ nào để xử lý số liệu thống kê bài thi trắc nghiệm?
Tác giả sử dụng phần mềm "Test thống kê" do TS. Lý Minh Tiên thuộc Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh xây dựng để trích xuất các chỉ số thống kê gồm Mean, SD, ĐKVP, $M_p$, $M_q$, $R_{pbis}$, độ phân cách $D$, hệ số tin cậy KR-20 và sai số SEM.
3. Tiêu chuẩn xác định độ khó vừa phải (ĐKVP) cho bài trắc nghiệm 4 lựa chọn trong khóa luận là bao nhiêu?
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm 4 lựa chọn được tính theo công thức: $\text{ĐKVP} = \frac{100% + 25%}{2} = 62{,}5%$ ($0{,}625$). Nếu $\text{Mean} > \text{ĐKVP}$ câu hỏi được đánh giá là dễ; nếu $\text{Mean} < \text{ĐKVP}$ câu hỏi là khó; nếu $\text{Mean} \approx \text{ĐKVP}$ câu hỏi được xem là vừa sức với sinh viên.
4. Cấu trúc bài thi thực nghiệm gồm bao nhiêu câu hỏi và thời gian làm bài là bao lâu?
Từ ngân hàng 98 câu ban đầu, tác giả chọn lọc 70 câu hỏi trắc nghiệm, xáo trộn thành 4 mã đề (Đề 1, 2, 3, 4), in kèm phiếu trả lời riêng và tổ chức cho 150 sinh viên làm bài trong thời gian 100 phút (không kể 5 phút hướng dẫn). Bài thi được chấm bằng phương pháp đục lỗ.
5. Tác giả xử lý như thế nào đối với các câu trắc nghiệm có mồi nhử đạt hệ số tương quan dương?
Mồi nhử có tương quan dương ($R_{pbis} > 0$) biểu thị hiện tượng sinh viên nhóm điểm cao chọn sai nhiều hơn sinh viên nhóm thấp. Tác giả tiến hành phân tích nguyên nhân hóa học dẫn đến sự nhầm lẫn này (do bẫy chưa hợp lý hoặc câu hỏi chưa tường minh), từ đó viết lại nội dung phương án nhiễu hoặc thay thế bằng phương án suy luận khoa học để hoàn thiện câu hỏi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Tấn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đo lường đánh giá và xây dựng thành công bộ 70 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương "Các nguyên tố phân nhóm chính nhóm IVA" cho sinh viên Khoa Hóa học. Thông qua thực nghiệm trên 150 sinh viên và phân tích định lượng bằng phần mềm chuyên dụng, đề tài đã xác định các thông số kỹ thuật then chốt, đồng thời đề xuất phương án chỉnh sửa cụ thể cho từng câu hỏi và mồi nhử. Kết quả nghiên cứu đóng góp một nguồn học liệu kiểm tra đánh giá đã qua kiểm định cho bộ môn Hóa vô cơ, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích về kỹ thuật trắc nghiệm trong đào tạo giáo viên Hóa học.