CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀ BÀI TẬP PHÂN HÓA 1. Thuyết đa trí tuệ [13] Như là một mặc định, từ trước đến nay trí thông minh của một người nói chung và một HS nói riêng được đánh giá dựa trên chỉ số IQ. Không thể phủ nhận rằng các bài kiểm tra (test) IQ đã dự đoán được khả năng học tập của HS một cách chính xác, song những bài kiểm tra này không thể cho biết sự thành công hay thất bại của HS đó sau khi rời ghế nhà trường. Thực tế đã chứng minh có rất nhiều người thành công trong cuộc sống đã từng bị đánh giá là những HS “không thể đào tạo được” khi còn đi học.
Như vậy, các bài kiểm tra IQ mới chỉ ra được cái gọi là “năng khiếu đi học”, còn trí thông minh phải được đánh giá trên phạm vi rộng với những kỹ năng khác nhau. Nhà tâm lý học Ho ard Gardner đã xây dựng học thuyết mới, thách thức các định kiến cũ về việc như thế nào là khôn khéo, thông minh: thuyết đa trí tuệ (thuyết đa thông minh). Gardner tin tưởng rằng nền văn hoá của chúng ta đã quá tập trung chú trọng vào lối tư duy lô-gic và tư duy bằng lời nói - đây là những năng lực chủ yếu được đánh giá trong một bài kiểm tra trí thông minh, trong khi đó đã bỏ qua những dạng khác của trí tuệ và sự hiểu biết. Ông đưa ra ý kiến là có ít nhất 7 loại trí thông minh khác nhau, đều xứng đáng được coi như những cách thức quan trọng của suy nghĩ và tư duy.
Theo Howard Gardner, mỗi một cá nhân là một sự pha trộn độc đáo của những sự thông minh khác nhau do đó cần có những cách thức và phương pháp học tập phù hợp với từng các nhân để phát triển những điểm mạnh, đồng thời cải thiện những điểm yếu. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà giáo dục, đó là sức mạnh của mỗi con người là một kênh để phát triển việc học tập sâu hơn. Điểm yếu của một cá nhân là một kênh yếu và nên tránh. Giảng dạy truyền thống đã đặt nặng vào sự thông minh ngôn ngữ và thông minh lôgích - toán học và đã không tính đến những loại thông minh khác.
Sau đây là bảy loại hình thông minh mà Gardner đã đưa ra năm 1983 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các loại trí thông minh Khả năng và nhận thức Thông minh về ngôn ngữ Các con chữ và ngôn ngữ Thông minh về lôgic – toán học Lô-gic và các con số Thông minh âm nhạc Âm nhạc, âm thanh, giai điệu Thông minh về chuyển động cơ thể Kiểm soát chuyển động cơ thể Thông minh về thị giác và không gian Các hình ảnh và không gian Thông minh về tương tác Cảm xúc của những người khác Thông minh về nội tâm Tự nhận thức Bảng 1. Tóm tắt thuyết đa tr tuệ của Howard Gardner Vào năm 1996, Gardner có bổ sung thêm 2 loại trí thông minh mà ông và đồng nghiệp đang nghiên cứu: Tr thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist): người có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời,… Tr thông minh về sự tồn tại (existential): người có khả năng học tập thông qua việc thấy bức tranh tổng thể. Loại trí tuệ này tìm kiếm sự kết nối giữa những kiến thức mới học với các ứng dụng, các kiến thức trong thực tế. Thuyết đa trí tuệ của Gardner có ý nghĩa rất lớn đối với giáo dục.
Đó là khi chúng ta giáo dục một HS thông qua những điểm mạnh của họ thì không những đã tăng sự tự tin, củng cố niềm tin cho HS rằng họ có thể làm được nhiều điều mà còn giúp họ cải thiện điểm yếu. Một ý nghĩa khác không kém phần quan trọng, mang lại một cái nhìn nhân bản, ấy là tất cả HS đều thông minh theo một cách riêng. Một giáo sư Toán học có thể có sự thông minh vượt bậc trong một số lĩnh vực như logic – toán học, song sẽ có khả năng kém hơn hoặc thậm chí không có trong một số lĩnh vực khác như âm nhạc, thể thao. Một vận động viên bơi lội sẽ gặp nhiều khó khăn với các bài phân tích văn học hoặc các con số.
Như vậy giữa giáo sư Toán học và vận động viên bơi lội thì ai thông minh hơn? Hầu hết, thậm chí là tất cả mọi người đều nhất trí rằng giáo sư Toán học chắc chắn sẽ thông minh hơn. Song dưới góc độ của nhà giáo dục thì câu trả lời phải là mỗi người đều thông 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com minh trong lĩnh vực của họ. Chúng ta phải thấy được điều này ở mỗi HS, để khơi gợi, khuyến khích, tạo điều kiện cho HS phát triển theo các hương khác nhau phù hợp với trí thông minh của mỗi người. Đó là nền tảng của dạy học phân hóa.
Quá trình dạy học [8] 1. Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt (1994) thì dạy là truyền lại tri thức hoặc kỹ năng một cách t nhiều có hệ thống, có phương pháp và dạy học là dạy để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức, theo chương trình nhất định. Theo khái niệm này thì dạy học chỉ là hoạt động truyền thụ kiến thức một chiều của GV đến HS. Trong một thời gian dài, quá trình dạy học luôn được tiến hành theo nghĩa này.
Ngày nay, khi mà kiến thức của nhân loại ngày càng gia tăng theo cấp số nhân mà thời gian truyền thụ kiến thức chỉ có hạn thì quá trình dạy học cũng có sự thay đổi về mặt bản chất. Theo đó thì quá trình dạy học là toàn bộ hoạt động chung của thầy và trò, dưới vai trò của đạo của GV, HS tích cực, độc lập, sáng tạo lĩnh hội kiến thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Với quan niệm như trên ta thấy dạy học là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách. Tính hai mặt này khẳng định rằng quá trình dạy học diễn ra đồng thời hai hoạt động do hai chủ thể thực hiện.
Đó là hoạt động học của người học và hoạt động dạy của người dạy. Sự tác động qua lại giữa hai hoạt động này tạo thành quy luật cơ bản chi phối quá trình dạy học. Đó là quy luật thống nhất giữa dạy và học, hay nói cách khác, quá trình dạy học là một hệ toàn v n. Tóm lại, uá trình dạy học là một uá trình tương tác và thống nhất biện chứng.
Trong đó, thầy đóng vai tr là chủ đạo l nh đạo, tổ chức và điều khiển hoạt động dạy và tr trước hết là một khách thể l nh hội tri thức và đồng th i c n là một chủ thể được thầy l nh đạo nên t ch cực, độc lập và sáng tạo tự tổ chức và điều khiển hoạt động học.[8] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học. Khi đã xác định được mục đích, nội dung chương trình dạy học thì phương pháp dạy học sẽ quyết định chất lượng của quá trình dạy học. Trước hết phải hiểu thế nào là phương pháp? Phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội hay là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó (Từ điển tiếng Việt – 1994).
Theo nghĩa chung nhất thì phương pháp là con đường, cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đề ra. Phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng cho quá trình cụ thể: quá trình dạy học. Như vậy, phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức, con đường, biện pháp phối hợp hoạt động chung của GV và HS, trong đó dưới vai trò chủ đạo (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) của GV, HS chủ động (tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo) lĩnh hội và nắm vững tri thức, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo và bồi dưỡng phát triển phẩm chất, nhân cách một cách toàn diện. [12] Phương pháp dạy học có một số đặc điểm quan trọng sau đây - Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của hai chủ thể nên chúng có tính độc lập tương đối và phối hợp thống nhất với nhau dưới sự chỉ đạo của phương pháp dạy.
- Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể nên chứa đựng những yếu tố chủ quan. Phương pháp giảng dạy thể hiện trình độ nghiệp vụ sư phạm của người GV. - Phương pháp dạy học luôn gắn chặt với mục đích dạy học. - Việc dạy học bao giờ cũng thực hiện theo nội dung.
Nội dung dạy học quy định phương pháp dạy học. Mỗi môn học, mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức, mỗi loại kỹ năng đòi hỏi những phương pháp dạy và học cụ thể. - Lựa chọn và sử dụng một loại phương pháp gắn liền với việc lựa chọn và sử dụng một loại phương tiện. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dạy học bao giờ cũng là sự phối hợp một hệ nhiều phương pháp, với nhiều thao tác.Việc lựa chọn hợp lý và sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học chính là nghệ thuật sư phạm.
Dạy học phân hóa[18] 1. Dạy học phân hoá là gì? Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học hướng đến mọi đối tượng HS ở mọi góc độ: năng lực nhận thức, hứng thú học tập, năng khiếu học tập… Dạy học phân hóa ngược lại với dạy học đồng loạt, khắc phục những nhược điểm của dạy học đồng loạt. Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, GV tiếp cận người học ở tâm lí, năng khiếu, về mơ ước trong cuộc sống…Có thể nói trong phương pháp dạy học phân hóa GV phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”.