Luận án tiến sĩ: Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh THPT theo tiếp cận năng lực

Luận án tiến sĩ giáo dục nghiên cứu dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh trung học phổ thông theo tiếp cận năng lực, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

206
45
2

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Giả thuyết khoa học

0.7. Đóng góp của luận án

0.8. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh trung học phổ thông

1.2. Nghiên cứu về năng lực đọc hiểu văn bản

1.3. Nghiên cứu về đọc hiểu văn bản thông tin

1.4. Nghiên cứu về dạy học đọc hiểu văn bản thông tin

1.5. Đặc điểm của học sinh trung học phổ thông với việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo tiếp cận năng lực

1.6. Cơ sở lý luận về dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh trung học phổ thông

1.7. Văn bản thông tin

1.8. Đọc hiểu văn bản thông tin và năng lực đọc hiểu văn bản thông tin

1.9. Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo tiếp cận năng lực

1.10. Cơ sở thực tiễn. Kinh nghiệm quốc tế

1.11. Thực tiễn ở Việt Nam

1.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

2.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo tiếp cận năng lực

2.2. Đề xuất một số biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo tiếp cận năng lực

2.2.1. Biện pháp 1: Thiết kế chuẩn NL ĐH VBTT

2.2.2. Biện pháp 2: Xác định nội dung dạy học ĐH VBTT

2.2.3. Biện pháp 3: Xác định quy trình, phương pháp và kĩ thuật dạy học ĐH văn bản thông tin

2.2.4. Biện pháp 4: Xác định phương pháp, công cụ kiểm tra, đánh giá NL ĐH VBTT của HS THPT

2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nội dung, đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Thời gian thực nghiệm. Quy trình thực nghiệm

3.4. Kết quả thực nghiệm

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Dạy đọc hiểu văn bản thông tin

Dạy đọc hiểu là quá trình giúp học sinh phát triển kỹ năng tiếp nhận, phân tích và đánh giá thông tin từ văn bản thông tin. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc dạy đọc hiểu không chỉ dừng lại ở việc hiểu nội dung mà còn hướng đến phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh. Văn bản thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết cho học sinh THPT, giúp các em ứng dụng vào thực tiễn và học tập suốt đời.

1.1. Vai trò của văn bản thông tin

Văn bản thông tin là công cụ chuyển tải thông tin khách quan, trung thực về mọi lĩnh vực đời sống. Trong giáo dục THPT, loại văn bản này giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc hiểu, tư duy phê phán và khả năng giao tiếp. Đặc biệt, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, việc đọc hiểu văn bản thông tin trở thành năng lực thiết yếu để học sinh thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.

1.2. Phương pháp dạy học đọc hiểu

Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cần tập trung vào việc thiết kế các hoạt động học tập chủ động, giúp học sinh phát triển năng lực tự học và tư duy độc lập. Các biện pháp như thiết kế chuẩn năng lực, xác định nội dung và quy trình dạy học hiệu quả là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dạy học.

II. Tiếp cận năng lực trong giáo dục THPT

Tiếp cận năng lực là phương pháp giáo dục hướng đến phát triển toàn diện các kỹ năng và phẩm chất của học sinh. Trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin, tiếp cận năng lực giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung mà còn biết cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, tập trung vào việc phát triển năng lực đọc hiểuhọc tập chủ động của học sinh.

2.1. Phát triển năng lực đọc hiểu

Phát triển năng lực đọc hiểu là mục tiêu quan trọng trong giáo dục THPT. Học sinh cần được trang bị các kỹ năng như phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin từ văn bản thông tin. Việc xây dựng chuẩn năng lực và hệ thống đánh giá phù hợp sẽ giúp học sinh đạt được yêu cầu này một cách hiệu quả.

2.2. Học tập chủ động

Học tập chủ động là yếu tố then chốt trong tiếp cận năng lực. Học sinh cần được khuyến khích tham gia tích cực vào quá trình học tập, tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề. Các phương pháp như thảo luận nhóm, dự án học tập và sử dụng công nghệ thông tin sẽ giúp học sinh phát huy tối đa khả năng của mình.

III. Thực tiễn và ứng dụng

Việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo tiếp cận năng lực đã được áp dụng tại nhiều trường THPT trên cả nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức như thiếu tài liệu hướng dẫn, lúng túng trong phương pháp dạy học và đánh giá. Để khắc phục, cần có sự hỗ trợ từ các nhà quản lý giáo dục và sự nỗ lực của giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học.

3.1. Thực trạng dạy học

Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản thông tin tại các trường THPT cho thấy, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn ngữ liệu và phương pháp dạy học phù hợp. Học sinh cũng chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng để đọc hiểu hiệu quả loại văn bản này.

3.2. Giải pháp và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả dạy học, cần xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn chi tiết, tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên và áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Đồng thời, cần tăng cường sự hợp tác giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tạo môi trường học tập thuận lợi cho học sinh.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh trung học phổ thông 1. Nghiên cứu về năng lực đọc hiểu văn bản 1. Ở nước ngoài Tại những quốc gia có nền giáo dục phát triển, nghiên cứu về ĐH (reading), NL ĐH (reading literacy/ reading comprehension) đã trải qua quá trình lâu dài và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.

Trong đó, quan niệm, kết quả nghiên cứu về vấn đề này thay đổi theo thời gian và gắn liền với những thay đổi về bối cảnh xã hội, kinh tế, văn hoá của mỗi quốc gia. Trong chương trình đánh giá quốc tế PISA, ĐH là một trong ba lĩnh vực được chú trọng khi đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS ở độ tuổi 15. Và kể từ kì đánh giá đầu tiên (năm 2000) đến nay, đọc hiểu là năng lực trọng tâm của hai kì đánh giá (năm 2000 và năm 2009). Ở mỗi kì đánh giá, quan niệm về đọc hiểu lại được bổ sung, điều chỉnh.

Năm 2000, PISA đặt trọng tâm vào đánh giá NL đọc mang tính ứng dụng, cần thiết cho đời sống thực, mà không đơn thuần kiểm tra các kĩ năng đọc cơ bản ở HS như giải mã thông tin, hiểu nghĩa đen của VB. Với trọng tâm như vậy, NL ĐH được PISA 2000 định nghĩa “là khả năng hiểu, sử dụng, suy ngẫm về các VB viết nhằm đạt được các mục tiêu của bản thân, tích luỹ kiến thức và phát triển tiềm năng và tham gia vào xã hội”. Ở PISA 2009, định nghĩa về NL ĐH được bổ sung thêm yếu tố “hình thành động lực đọc” và khả năng “đọc hiểu các văn bản điện tử”. Theo đó, NL ĐH là “khả năng hiểu, sử dụng, suy ngẫm về các văn bản viết và hình thành động lực đọc đúng đắn, nhằm đạt được các mục tiêu của bản thân, tích luỹ kiến thức và phát triển tiềm năng và tham gia vào xã hội” [24, tr.

PISA quy định quy tắc tổ chức mảng NL ĐH dựa trên ba khía cạnh: tình huống đọc, dạng VB và quy trình đọc. Trên cơ sở đó, PISA đánh giá ở HS năm quy trình đọc cụ thể, đó là: (1) tìm kiếm thông tin, (2) hiểu khái quát văn bản, (3) diễn giải VB, (4) suy ngẫm và đánh giá nội dung VB, (5) suy ngẫm và đánh giá hình thức VB [66, tr. Khung đánh giá PISA 2012 khẳng định sự phát triển NL ĐH được xác định từ sự phức tạp và độ khó của các nhiệm vụ. Trong môi trường in ấn, để đánh giá NL ĐH VB, PISA 2012 đề xuất 7 mức độ đánh giá cụ thể.

Theo đó, “năng lực đọc hiểu không chỉ còn là một yêu cầu suốt thời kỳ tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, mà nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn” [78]. Vì vậy, tác động tích cực của việc ĐH không chỉ 16 thể hiện ở kết quả học tập của các môn học khác mà quan trọng hơn là thể hiện qua sự thành công ở tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của người trưởng thành. Cho đến nay, những định hướng này không chỉ tạo ra được kết quả đánh giá tin cậy của một chương trình đánh giá uy tín mà còn là những gợi dẫn khoa học, cụ thể đối với GV, HS khi đọc hiểu VB trong nhà trường nói riêng và đối với bạn đọc khi ĐH VB nói chung. Trên cơ sở khẳng định “khả năng đọc hiểu tiếng Anh cơ bản là tạo ra và chuyền tải ý nghĩa qua các kí hiệu và chữ viết trên văn bản”, bang Victoria đã xác định 7 thành tố của NL đọc hiểu tiếng Anh cơ bản, bao gồm: (1) nhận thức/ kiến thức về kí hiệu hoặc chữ; (2) động lực, (3) kiến thức về chữ và số, (4) kiến thức về âm vị học (kết hợp các từ dựa trên nền tảng có cùng âm đầu đầu tiên bằng miệng hoặc bằng công nghệ hỗ trợ, kết hợp từ có cùng nền tảng vần bằng miệng hoặc bằng công nghệ hỗ trợ, phân đoạn âm trong từ, trộn âm trong các từ), (5) kiến thức về âm vị học (dự đoán nghĩa của từ, nhận diện được dạng của từ và các thành phần âm), (6) hiểu, (7) kiểm soát quá trình sản sinh văn bản [35, tr.

Quan niệm này đã chú trọng đầy đủ các yếu tố của VBTT, bao gồm chữ và các kí hiệu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (tiếng Anh: Organization for Economic Cooperation and Development; viết tắt: OECD) quan niệm: “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một VB viết, nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng cũng như khả năng tham gia hoạt động của con người trong xã hội”; “biết đọc được hiểu như là sự giải mã và thấu hiểu tư liệu, bao hàm cả việc hiểu, sử dụng và phản hồi thông tin với nhiều mục đích khác nhau” [47]. Quan điểm này đặc biệt coi trọng phản hồi trong ĐH – yếu tố góp phần hình thành, phát triển tư duy phản biện, tư duy cần có để tự đọc và tự học sáng tạo. Như vậy, ĐH VB là vấn đề quan tâm của nhiều nhà khoa học.

Qua các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa NL ĐH và NL học tập suốt đời: “Ban đầu là học để biết đọc, biết viết và sau đó thông qua đọc và viết để học, học trong nhà trường và học suốt đời” [57] cho nên “muốn dạy đọc hiểu cho HS, hình thành NL ĐH cho các em để các em có thể tự học và học suốt đời nhất thiết phải nghiên cứu đổi mới các thao tác dạy học Ngữ văn một cách thấu đáo, khoa học, hệ thống mới mong có hiệu quả” [26, tr. Ở Việt Nam Thuật ngữ “Đọc - hiểu văn bản” được sử dụng ở Việt Nam với tư cách là phương pháp dạy học, thay thế cho phương pháp giảng văn truyền thống từ năm 2006 trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn [21, tr. Khi chuyển từ giảng văn sang dạy học ĐH, nhiều nhà khoa học đã ý thức rõ vai trò, vị trí của môn học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. ĐH VB được xem là “khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” [48].

“Dạy đọc hiểu là dạy năng 17 lực phản tỉnh, phản tư cho HS (…) năng lực nhận ra điều mình hiểu và điều mình không hiểu”[50]. Sứ mệnh cao cả của dạy đọc hiểu, theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng là “tạo nền tảng văn hoá cho người đọc”. Theo quan niệm mới, “ở THCS và THPT, dạy văn là dạy ĐH VB theo thể loại và theo phương thức biểu đạt” [46] và cần thiết phải xây dựng “một quy trình đọc hiểu văn bản trong bài học Ngữ văn mới” [13]. ĐH VB phải được xem là “khâu đột phá dạy học văn học trong nhà trường”.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà “trình độ văn hoá được đánh giá bằng năng lực nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lí thông tin từ các VB khác nhau” [23, tr. Quan niệm ĐH là một kĩ năng học tập, tác giả Nguyễn Thị Hạnh khẳng định: việc hình thành, củng cố, phát triển kĩ năng ĐH cho người học trong quá trình học tập gắn liền với bản chất của việc dạy ĐH: Bản chất dạy học ĐH là dạy một kĩ năng học tập [18]. Tác giả đặc biệt coi trọng tác động của VB vào người đọc. Điều này phù hợp với đối tượng HS tiểu học.

Tuy nhiên, nó chưa hoàn toàn phù hợp với đối tượng HS ở các cấp học cao hơn khi chưa dành sự quan tâm thoả đáng đến việc hướng dẫn HS xác định yếu tố trong VB để lí giải sự tác động đó đối với người đọc. Căn cứ vào sự tác động này, trong bài viết “Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam”, tác giả tiếp tục nhấn mạnh những dấu hiệu cốt lõi của ĐH và xác định các NL cấu thành nên NL ĐH. Từ đó, tác giả đề xuất chiến lược ĐH, đề xuất thiết kế chuẩn NL ĐH (bao gồm cả VBTT và VB nghệ thuật). Kết quả nghiên cứu này có đóng góp quan trọng trong dạy học theo định hướng phát triển NL, nhất là với HS THPT.

Ở cấp học này, HS đã đạt được sự hiểu biết, sự trải nghiệm nhất định, đủ để tiếp thu những tác động từ văn bản một cách chủ động, có lựa chọn. Từ ý thức về tầm quan trọng của việc ĐH và dạy ĐH trong nhà trường, “dạy đọc hiểu có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng của nhà trường … Đọc hiểu là hoạt động trung tâm của hoạt động dạy học Văn đổi mới”[40, tr.4], các nhà nghiên cứu đã hệ thống các nguyên tắc đảm bảo hiệu quả của việc dạy ĐH VB trong nhà trường. Tác giả Nguyễn Quang Cương “khuyến khích các phát hiện và cảm nhận chủ quan nhưng trước hết cần tôn trọng văn bản và tuân thủ ý nghĩa khách quan của tác phẩm” [14]. Đồng thuận với quan điểm trên, tác giả Trần Đình Sử, qua nghiên cứu VBVH, đã khẳng định: “Để thực hiện đọc hiểu và phát huy tính chủ động sáng tạo của HS, GV cần có thái độ cởi mở, chấp nhận những cách hiểu khác nhau miễn là có lí.

Trong trường hợp có các cách hiểu khác nhau thì GV phát huy đối thoại, thảo luận, phân tích giá trị của từng cách hiểu, chú ý sách lược đọc, để lựa chọn cách hiểu có ý nghĩa nhất, hay nhất, có sức thuyết phục cao” [50, tr. Chính quan điểm tiến bộ này đã góp phần triệt tiêu việc đọc hộ, hiểu hộ tồn tại khá lâu trong dạy học Ngữ văn trước kia. 18 Đây là một trong những tín hiệu tích cực nhằm hiện thực hoá định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế. Khi nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận và giải mã VBVH trong chương trình Ngữ văn 2018, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã trình bày thực tiễn dạy học ĐH ở Mỹ đồng thời nêu lên yêu cầu về ĐH trong CT Ngữ văn mới, bao gồm: hiểu nội dung VB; hiểu hình thức thể hiện; vận dụng, liên hệ, so sánh ngoài VB.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh THPT theo tiếp cận năng lực" tập trung vào việc nâng cao kỹ năng đọc hiểu của học sinh thông qua cách tiếp cận dựa trên năng lực. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về nội dung văn bản mà còn phát triển khả năng phân tích, đánh giá và ứng dụng thông tin vào thực tiễn. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế bài giảng linh hoạt, phù hợp với năng lực cá nhân, đồng thời cung cấp các ví dụ cụ thể và hướng dẫn chi tiết để giáo viên áp dụng hiệu quả trong giảng dạy.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong dạy học chương, Skkn mới nhất một số biện pháp phát huy năng lực nói và nghe của học sinh trong giờ học ngữ văn 10, và Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục phát triển năng lực phân tích tổng hợp cho học sinh trung học thông qua dạy học hình học lớp 9. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các chiến lược giáo dục hiệu quả, từ đó áp dụng linh hoạt trong quá trình giảng dạy và phát triển năng lực học sinh.