Phát triển năng lực ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học trung đại việt nam

Nâng cao năng lực ngữ văn cho học sinh THPT qua văn học trung đại Việt Nam. Phương pháp dạy học sáng tạo, hiệu quả, bồi dưỡng kiến thức văn học sâu sắc.

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

308
2
1

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Năng Lực Ngữ Văn THPT 55 Ký Tự

Văn học trung đại Việt Nam (VHTĐ) giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc. Hơn nghìn năm phát triển, VHTĐ phản ánh chân thực hiện thực đất nước, con người Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đồng thời, nó thể hiện sâu sắc ý thức về quốc gia, dân tộc, về những giá trị nhân văn, thẩm mĩ cao đẹp. VHTĐ góp phần hình thành, phát triển truyền thống văn học dân tộc, ảnh hưởng đến văn học hiện đại. Trong chương trình Ngữ văn phổ thông, việc dạy học VHTĐ Việt Nam chiếm vị trí quan trọng. Chương trình năm 2018 quy định 5/6 tác phẩm quan trọng thuộc VHTĐ. Sách Ngữ văn 10 và 11 có nhiều tác phẩm/đoạn trích VHTĐ. Di sản VHTĐ giúp học sinh hình dung toàn cảnh lịch sử văn học, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan niệm thẩm mĩ, phát triển năng lực chung và năng lực ngữ văn. Di sản này kết tinh thành tựu sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của người xưa.

1.1. Vai trò của văn học trung đại trong chương trình THPT

Việc dạy học các tác giả, tác phẩm VHTĐ Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng. Ở chương trình Ngữ văn phổ thông năm 2006, các lớp 7, 8, 9 trung học cơ sở (THCS) và các lớp 10, 11 trung học phổ thông (THPT) đều có nhiều tác phẩm VHTĐ Việt Nam với các thể loại bằng chữ Hán và chữ Nôm. Ở Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, trong số sáu tác phẩm quan trọng bắt buộc dạy học trong nhà trường thì đã có đến năm tác phẩm thuộc VHTĐ Việt Nam và có hai tác giả VHTĐ Việt Nam trong tổng số ba tác giả được dạy thành bài riêng. Đó là các tác phẩm Nam quốc sơn hà, Dụ chư tì tướng hịch văn, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học

Di sản VHTĐ Việt Nam thông qua những thành tựu nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh ở những tác phẩm tiêu biểu của một số tác giả lớn vừa giúp học sinh (HS) hình dung bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan niệm, lí tưởng thẩm mĩ cho HS, vừa giúp người học phát triển năng lực (PTNL) chung và năng lực ngữ văn.

II. Thách Thức Dạy Văn Học Trung Đại Hiệu Quả 58 Ký Tự

Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học VHTĐ Việt Nam ở trường THPT gặp nhiều khó khăn. Nhiều giáo viên hiện đại hóa tác phẩm, hoặc chỉ lý giải chung chung các giá trị yêu nước, nhân đạo, hiện thực mà không giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, cái độc đáo của nhà văn. Nhiều giáo viên nặng về giảng giải nội dung, phân tích sự kiện lịch sử mà chưa khai thác hết các giá trị thẩm mĩ của văn chương trung đại. Cách tổ chức quá trình dạy học, việc lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học chưa phù hợp, hạn chế việc PTNL ngữ văn của học sinh. Nguyên nhân quan trọng là giáo viên chưa có sự hiểu biết thấu đáo về lý luận dạy học theo hướng PTNL.

2.1. Những hạn chế trong phương pháp giảng dạy hiện tại

Theo đánh giá chung, do nhiều nguyên nhân, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học VHTĐ Việt Nam ở trường THPT thực sự vẫn gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, do vốn kiến thức, hiểu biết về văn hóa, VHTĐ còn hạn chế, không ít GV đã hiện đại hóa tác phẩm, dạy học VHTĐ cũng như dạy học văn học hiện đại; hoặc chỉ lý giải chung chung rồi quy tác phẩm vào các giá trị yêu nước, nhân đạo, hiện thực… mà không giúp HS thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, không hiểu được cái độc đáo của nhà văn; hoặc nặng về giảng giải nội dung, phân tích các sự kiện lịch sử mà chưa khai thác hết các giá trị thẩm mĩ của văn chương trung đại.

2.2. Thiếu hụt về lý luận dạy học theo hướng phát triển năng lực

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế, trong đó có nguyên nhân quan trọng là GV chưa có sự hiểu biết thấu đáo về lý luận dạy học theo hướng PTNL nên chưa lựa chọn được cách tổ chức, hình thức, biện pháp dạy học (BPDH) phù hợp. Trong khi đó, vấn đề PTNL ngữ văn cho HS THPT đang được sự quan tâm của ngành giáo dục và trở thành mục tiêu, yêu cầu của công cuộc đổi mới dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay. Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu để làm rõ hơn lý luận dạy học theo hướng PTNL cũng như đề xuất các biện pháp sư phạm trong QTDH VHTĐ Việt Nam ở trường THPT.

III. Cách Phát Triển Năng Lực Ngữ Văn Qua Văn Học 59 Ký Tự

Để phát triển năng lực ngữ văn qua VHTĐ, cần vận dụng nhiều phương pháp dạy học, cả phương pháp chung và phương pháp đặc thù, hướng đến mục tiêu PTNL HS. Quá trình học phải chú ý đến tính thực hành vận dụng, gắn các nội dung học tập với các hoạt động trải nghiệm của HS. Cần đặt HS vào các tình huống thực tiễn để học sinh có thể nói lên những suy nghĩ và đề xuất các giải pháp hành động. Đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn, trong đó có phương pháp dạy học VHTĐ Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học, phát triển được năng lực HS chính là nhiệm vụ quan trọng để hiện thực hoá chiến lược giáo dục.

3.1. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực và tích hợp

Để tiếp cận Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, QTDH ở trường phổ thông sẽ triển khai vận dụng nhiều PPDH (kể cả phương pháp chung và phương pháp đặc thù) hướng đến mục tiêu PTNL HS, đồng thời trong quá trình học phải chú ý đến tính thực hành vận dụng, gắn các nội dung học tập với các hoạt động trải nghiệm của HS; đặt HS vào các tình huống của thực tiễn của đời sống để học sinh có thể nói lên những suy nghĩ và đề xuất các giải pháp hành động.

3.2. Tăng cường tính thực hành và trải nghiệm cho học sinh

Như vậy, đổi mới PPDH Ngữ văn, trong đó có PPDH VHTĐ Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học, phát triển được năng lực HS chính là nhiệm vụ quan trọng phải làm để góp phần hiện thực hoá Chiến lược giáo dục của đất nước trong thời kì mới.

3.3. Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học văn học

Trong hoạt động ngoại khóa môn Ngữ văn thiết thực với học văn học trung đại Việt Nam ở trường trung học phổ thông, ta cần: Bảng so sánh sự khác nhau trong sắc thái biểu cảm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt . Hình vẽ Sơ đồ kết cấu lập luận trong Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi)

IV. Hình Thức Tổ Chức Dạy Học Năng Lực Ngữ Văn 54 Ký Tự

Luận án tập trung nghiên cứu bốn nội dung: những vấn đề về lý luận và PPDH PTNL ngữ văn cho HS THPT; VHTĐ Việt Nam trong chương trình Ngữ văn THPT (Chương trình Ngữ văn THPT năm 2006 và Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018); PTNL ngữ văn cho HS THPT qua dạy học VHTĐ Việt Nam; quy trình, phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học VHTĐ Việt Nam ở trường THPT theo định hướng PTNL. Luận án đặt ra nhiệm vụ hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn dạy học, xây dựng quy trình, thiết kế bài học minh hoạ, tổ chức dạy học thực nghiệm.

4.1. Nghiên cứu các phương pháp phát triển kỹ năng đọc viết nói và nghe

Trong năng lực ngữ văn, luận án tập trung vào các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe, từ đó phát triển năng lực ngôn ngữnăng lực văn học của HS.

4.2. Xây dựng quy trình dạy học tích cực và tích hợp

  • Xây dựng quy trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực và tích hợp nhằm PTNL ngữ văn cho HS qua dạy học VHTĐ Việt Nam ở trường THPT. Trong năng lực ngữ văn, luận án tập trung vào các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe, từ đó phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học của HS.

V. Kết Quả Thực Nghiệm Phát Triển Năng Lực Ngữ Văn 53 Ký Tự

Thực nghiệm sư phạm được thực hiện tại trường THPT chuyên Nguyễn Thiện Thành và Trung tâm Giáo dục thường xuyên hướng nghiệp dạy nghề thành phố Trà Vinh. Các bài dạy thực nghiệm bao gồm bài học tích hợp “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, dạy học tích hợp theo chủ đề “Thiên nhiên trong văn học trung đại Việt Nam”, và dạy học chuyên đề “Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều”. Hoạt động trải nghiệm bao gồm nghiên cứu tình huống, dạy học dự án, nghiên cứu khoa học và ngoại khóa văn học.

5.1. Đánh giá kết quả thực nghiệm qua hoạt động đọc viết nói và nghe

Thực nghiệm sư phạm được thực hiện tại 02 điểm trường ở tỉnh Trà Vinh: Trường THPT chuyên Nguyễn Thiện Thành (thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh) và Trung tâm Giáo dục thường xuyên hướng nghiệp dạy nghề thành phố Trà Vinh. Thời gian tiến hành khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm từ tháng 6/2016 đến tháng 06/2022.

5.2. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm đối chứng

Bảng thống kê kết quả thực nghiệm đối với dạy học tích hợp theo bài (Điểm trường THPT chuyên Nguyễn Thiện Thành) . Bảng thống kê kết quả thực nghiệm đối với dạy học tích hợp theo bài (Điểm trường Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố Trà Vinh).

VI. Kiến Nghị Để Phát Triển Năng Lực Ngữ Văn THPT 56 Ký Tự

Đề tài Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học trung đại Việt Nam thực sự cần thiết, khả thi và có tính thời sự, tính khoa học – sư phạm cao. Mục tiêu chung là PTNL ngữ văn cho HS THPT qua dạy học VHTĐ Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là PTNL năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học thông qua phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe các văn bản VHTĐ Việt Nam trong các hình thức tổ chức dạy học cụ thể; đồng thời PTNL tư duy logic và PTNL tư duy hình tượng, năng lực thẩm mĩ.

6.1. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn học trung đại

Luận án Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học trung đại Việt Nam hướng đến mục tiêu chung là PTNL ngữ văn cho HS THPT qua dạy học VHTĐ Việt Nam.

6.2. Định hướng tương lai cho việc nghiên cứu và ứng dụng đề tài

Xuất phát từ những lí do trên, trong thời điểm hiện tại và trong tương lai, chúng tôi thấy đề tài Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học trung đại Việt Nam thực sự cần thiết, khả thi và có tính thời sự, tính khoa học – sư phạm cao.

12/05/2025
Phát triển năng lực ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học trung đại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau mà quan niệm năng lực được hiểu theo những nét nghĩa khác nhau bên cạnh nội hàm chung của khái niệm năng lực. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2010), năng lực là: 1 khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2 Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [91, tr.851] Trong Chương trình tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực được định nghĩa là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [9, tr.

37] Theo các quan niệm về năng lực trên, có thể thấy, khái niệm năng lực được nhiều nhà nghiên cứu nhất trí về bản chất năng động và sự phụ thuộc chặt chẽ vào bối cảnh thực hiện. Năng lực được hình thành, phát triển, thể hiện qua hoạt động và nếu không hoặc ít hoạt động, năng lực sẽ không hình thành, không tồn tại. Năng lực liên quan đến những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó, đồng thời năng lực sẽ giúp cho việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn. Từ các quan niệm về năng lực như trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn 9 luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.

Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Để tránh sự nhầm lẫn giữa năng lực và kĩ năng, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đã phân biệt năng lực với kĩ năng: Kĩ năng hình thành trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, do luyện tập bài bản mà tạo được những thao tác thuần thục trong công việc, hiệu quả với môi trường ổn định. Năng lực hình thành trên cơ sở tiếp thu kiến thức và phương pháp đã có để sáng tạo những tri thức và phương pháp mới, thích ứng với môi trường thay đổi năng động. Kĩ năng chỉ là một biểu hiện của năng lực.

Thế nhưng trong thực tế, khi xác định năng lực Tiếng Việt/Ngữ văn của người học, có khi ta vẫn chưa vượt ra khỏi mức độ kĩ năng, hoặc vẫn còn lẫn giữa kĩ năng và năng lực. [116, tr 71-72] Theo Nguyễn Văn Cường (2014) [31], năng lực gắn với quá trình hoạt động của chủ thể, cấu trúc của năng lực hành động gồm sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: chuyên môn, phương pháp, xã hội, cá thể. + Năng lực chuyên môn (Professional competency): là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách chính xác. Năng lực này có được qua việc học nội dung môn học.

+ Năng lực phương pháp (Methodical competency): là các khả năng thực hiện các công việc như xây dựng kế hoạch hành động, giải quyết các nhiệm vụ, tiếp nhận, xử lí, đánh giá vấn đề. Năng lực này có được thông qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. + Năng lực xã hội (Social competency): là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội. Năng lực này được hình thành qua việc học giao tiếp.

+ Năng lực cá thể (Induvidual competency): là khả năng xác định, đánh giá được năng khiếu, giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Năng lực này được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm [31, tr 68-69]. 10 Có nhiều cách phân loại năng lực khác nhau. Trong phát triển nguồn nhân lực, theo Kroon, B.

(2006) [148] có ba loại năng lực: + Năng lực cốt lõi: mô tả các yếu tố hành vi quan trọng đối với tất cả các thành viên trong một tổ chức; đòi hỏi mọi vị trí trong tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ theo yêu cầu để đáp ứng sứ mệnh, tầm nhìn, tiêu chuẩn và kế hoạch chiến lược của tổ chức. + Năng lực chung: mô tả khả năng, đặc tính cụ thể của một nhóm, một bộ phận trong tổ chức; có phần giống năng lực cốt lõi nhưng ở trình độ cao hơn để thực hiện công việc, nhiệm vụ cụ thể. + Năng lực cá nhân: là năng lực riêng biệt cho một vị trí cụ thể; có thể kế thừa từ năng lực cốt lõi và năng lực chung nhưng ở trình độ thạo việc cao hơn. Trong phát triển giáo dục, theo OECD [155], năng lực được phân chia thành hai nhóm chính là các năng lực chung (còn gọi là năng lực cốt lõi, năng lực chính, năng lực cơ sở) và các năng lực chuyên môn (còn gọi là năng lực chuyên biệt).

+ Nhóm năng lực chung: là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người sống và làm việc bình thường trong xã hội, được hình thành và phát triển qua nhiều môn học. Năm 2002, EU (Hội đồng châu Âu) đã thống nhất xác định hệ thống năng lực chung cho chương trình giáo dục của mỗi nước bao gồm 8 lĩnh vực: ▪ Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; ▪ Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài; ▪ Công nghệ thông tin và truyền thông; ▪ Tính toán và năng lực toán, khoa học, công nghệ; ▪ Doanh nghiệp, kinh doanh; ▪ Năng lực liên cá nhân và năng lực công dân; ▪ Hiểu biết về học; ▪ Văn hoá chung. Theo EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng đối với các chuyên gia nhưng rất quan trọng đối với tất cả mọi người. [155] 11 Theo Chương trình Giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể 2018, năng lực chung gồm: ▪ Năng lực tự chủ và tự học ▪ Năng lực giao tiếp và hợp tác ▪ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [9, tr.43-50] Năng lực đặc thù gồm: ▪ Năng lực ngôn ngữ ▪ Năng lực tính toán ▪ Năng lực khoa học ▪ Năng lực công nghệ ▪ Năng lực tin học ▪ Năng lực thẩm mĩ ▪ Năng lực thể chất [9, tr.51-53] Với yêu cầu năng lực chung và năng lực đặc thù của HS, trừ năng lực thể chất, môn Ngữ văn có thể tham gia vào việc hình thành các năng lực của HS.2 Nghiên cứu về phát triển năng lực chung và năng lực chuyên môn qua môn Ngữ văn Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, Phan Trọng Luận đã hệ thống cấu trúc năng lực văn cần hình thành cho HS tương ứng với ba hình thức hoạt động khác nhau về văn: loại năng lực sáng tác văn, loại năng lực nghiên cứu phê bình văn học và loại năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học.

Tác giả cũng nhấn mạnh nhà trường cần chú ý năng lực tiếp nhận và năng lực bình giá tác phẩm văn học trong dạy học văn [75, tr. Từ đó, có thể thấy tác giả đã chú ý đến tính chất đặc thù của năng lực văn nhưng chưa nhấn mạnh nhiều đến năng lực giao tiếp, năng lực tư duy của HS. Nhóm năng lực chuyên môn là những năng lực riêng được hình thành và phát triển liên quan đến từng môn học cụ thể. Đối với môn Ngữ văn, năng lực chuyên môn gồm: - Năng lực ngôn ngữ: Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt, kiến thức khác có liên quan đến tác phẩm như bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ để hiểu các văn bản khó hơn; Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm về hình thức biểu đạt của văn bản; Biết cách tạo lập các kiểu văn bản; có cách nhìn, cách nghĩ về con người và cuộc sống theo cảm quan riêng.11] 12 - Năng lực văn học: phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học.

Nhận biết đặc trưng của hình tượng văn học và một số điểm khác biệt giữa hình tượng văn học với các loại hình tượng nghệ thuật khác; phân tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học; nhận biết và phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ văn học, câu chuyện, cốt truyện và cách kể chuyện; nhận biết và phân tích được một số đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại.11-12] - Gắn với việc PTNL ngôn ngữ và năng lực văn học là năng lực tư duy, năng lực thẩm mĩ. Về năng lực tư duy: PTNL tư duy logic và nhất là tư duy hình tượng, vì đặc trưng của văn học là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Với tư duy logic, HS nhận biết cấu trúc, logic hệ thống vấn đề của một văn bản, biết tạo lập văn bản với bố cục chặt chẽ, với hệ thống luận điểm, luận cứ hợp lí, khoa học. Với tư duy hình tượng, HS nhận biết, phân tích được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, biết diễn đạt cảm xúc, suy tư của mình bằng hình tượng nghệ thuật.

Về năng lực thẩm mĩ: Đối với môn Ngữ văn năng lực thẩm mĩ thể hiện ở khả năng nhận thức được các yếu tố thẩm mĩ; Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mĩ của văn chương; Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Phát Triển Năng Lực Ngữ Văn THPT Qua Dạy Học Văn Học Trung Đại" tập trung vào việc khai thác tiềm năng của văn học trung đại trong việc bồi dưỡng năng lực ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu này không chỉ phân tích sâu sắc các đặc trưng của văn học trung đại mà còn đề xuất các phương pháp sư phạm hiệu quả để biến những tác phẩm này thành công cụ hữu hiệu cho việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, cảm thụ văn học, và sáng tạo ngôn ngữ cho học sinh. Đọc luận án này, giáo viên sẽ tìm thấy những gợi ý thực tiễn về cách thiết kế bài giảng, lựa chọn ngữ liệu, và tổ chức các hoạt động học tập nhằm khơi gợi hứng thú và phát huy tối đa năng lực của học sinh.

Nếu bạn quan tâm đến việc phát triển năng lực cho học sinh một cách tổng quan hơn, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ lý luận và phương pháp dạy học bộ môn toán biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học hình học lớp 6 tại đây. Mặc dù tập trung vào môn Toán ở cấp THCS, luận văn này cung cấp những góc nhìn giá trị về việc phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực giao tiếp và hợp tác, những yếu tố quan trọng trong mọi lĩnh vực học tập. Việc nghiên cứu các phương pháp này có thể giúp bạn áp dụng linh hoạt vào việc dạy học Ngữ văn, đặc biệt là khi tổ chức các hoạt động nhóm hoặc thảo luận về các tác phẩm văn học trung đại.