CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những vấn đề chung về năng lực giao tiếp và hợp tác 1. Năng lực Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có giải thích: năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”. [22] Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 có nêu rõ: “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. [3] Như vậy, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân, được hình thành và phát triển trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đề xuất 10 năng lực: + Năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. + Năng lực chuyên môn: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
[3] Chương trình tổng thể cũng đề ra các năng lực cần khi học Toán học như sau: “Giáo dục toán học góp phần hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học - biểu hiện tập trung của năng lực tính toán với các thành phần sau: tư duy và lập luận toán học, mô hình hoá toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học, sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn”. Giao tiếp Theo từ điển tiếng việt, Giao tiếp là “sự trao đổi, truyền đạt giữa con người với con người các nội dung tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm và các tri thức, thông tin khác nhờ ngôn ngữ và các quy tắc, quy ước hay một hệ thống tín hiệu nào đó”. [22] Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thức: cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, nhóm với nhóm, nhóm với cộng đồng. Giao tiếp qua các phương tiện: + Phương tiện ngôn ngữ: lời nói, chữ viết.
+ Phương tiện phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, … để biểu thị đồng tình hay phản đối. Năng lực giao tiếp là sự phối hợp hợp lí phương tiện phi ngôn ngữ và phương tiện ngôn ngữ đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp. Theo đó, giao tiếp trong dạy học toán là sự trao đổi, truyền đạt các kiến thức toán học nhờ ngôn ngữ toán học và ngôn ngữ tự nhiên. Ngôn ngữ toán học bao gồm các khái niệm, tính chất, quy tắc, kí hiệu, hình vẽ, bảng, biểu đồ, đồ thị,… Trong dạy học Toán, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giao tiếp toán là một mục tiêu quan trọng vì toán học ngày càng phát triển, đã tự thân hình thành một hệ thống ngôn ngữ riêng với các khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ, tính chất, quy tắc, công thức, kí hiệu,… Năng lực giao tiếp toán là năng lực của HS sử dụng hợp lí, logic ngôn ngữ toán trong giao tiếp.
Hợp tác Theo từ điển Tiếng Việt, hợp tác là cùng chung sức với nhau làm một công việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó. [22] Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực hiện các nhiệm vụ học tập nhất định nhằm đảm bảo mục tiêu dạy học. 6 Trong dạy học toán, Năng lực hợp tác của HS thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau, phối hợp với thầy cô trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động hợp tác nhóm, cặp HS thể hiện được suy nghĩ, ý kiến của mình đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm, cặp để điều chỉnh ý kiến của mình.
Việc hợp tác giúp HS xem xét vấn đề, sự vật trên nhiều khía cạnh, tránh cái nhìn chủ quan, phiến diện. Năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giao tiếp và hợp tác là khả năng truyền đạt ý tưởng và thông tin một cách hiệu quả đến người khác và khả năng làm việc cùng với những người khác để đạt được một mục tiêu chung. Các môn học ở bậc giáo dục phổ thông đều cần phải hướng đến phát triển 3 NL cốt lõi là: Năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Trong đó NL giao tiếp và hợp tác được cụ thể hóa với 8 thành phần đối với cấp trung học cở sở như sau: “- Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp.
- Thiết lập duy trì và phát triển các mối quan hệ với bạn bè; nhận biết được mâu thuẫn và biết cách dàn xếp mâu thuẫn. - Xác định mục đích và phương thức hợp tác: chủ động đề xuất, xác định được những công việc có thể hoàn thành tốt nhất khi hợp tác nhóm. - Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân. - Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác.
- Tổ chức và thuyết phục người khác. - Đánh giá hoạt động hợp tác: nhận xét được ưu, khuyết điểm của bản thân, các thành viên trong nhóm và cả nhóm trong công việc. - Hội nhập quốc tế. Năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh trong dạy học Toán 1.
Năng lực giao tiếp toán học Môn toán hình thành và phát triển cho HS năng lực toán học với năm năng lực thành phần: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực sử dụng công cụ phương tiện học toán. Trong đó năng lực giao tiếp toán học được cụ thể về yêu cầu cần đạt đối với cấp THCS như sau: “- Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học trong văn bản; phân tích, lựa chọn, trích xuất được các thông tin toán học cần thiết từ văn bản. - Thực hiện được việc trình bày, diễn đạt, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác. - Sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để biểu đạt các nội dung toán học.
- Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, thảo luận, tranh luận, giải thích các nội dung toán học trong một số tình huống không quá phức tạp. Mối liên hệ giữa năng lực giao tiếp và hợp tác với năng lực giao tiếp toán học Xét về mặt nào đó, năng lực giao tiếp toán học nằm trong năng lực giao tiếp và hợp tác. Năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong ba năng lực chung được hình thành và phát triển trong tất cả các lĩnh vực, môn học. Năng lực giao tiếp và hợp tác là khả năng truyền đạt thông tin hiệu quả và khả năng làm việc cùng những người khác để đạt được mục đích chung.
Trong lĩnh vực toán học, năng lực giao tiếp là khả năng diễn đạt các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học một cách logic, dễ hiểu. Bên cạnh đó, trong năng lực giao tiếp toán học đã có yếu tố hợp tác vì bản thân việc dạy và học toán yêu cầu sự hợp tác. GV hợp tác với HS khi truyền đạt kiến thức một cách rõ ràng và dễ hiểu; HS hợp tác với GV khi chú 8 ý, tập trung vào bài học và lời giảng của GV, trình bày diễn đạt ý kiến của mình; HS hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập trong giờ học toán và giúp đỡ nhau thực hiện nhiệm vụ. Nếu không có sự hợp tác thì HS dễ hiểu các nội dung toán học một cách mơ màng, không chính xác dẫn đến khả năng giao tiếp toán kém làm việc trình bày lộn xộn, khó hiểu, không chính xác các nội dung toán học.
Sự bất hợp tác trong dạy và học toán vừa là nguyên nhân vừa là biểu hiện cho thấy năng lực giao tiếp toán yếu kém. Như vậy, năng lực giao tiếp và hợp tác trong môn toán được biểu hiện chủ yếu qua năng lực giao tiếp toán học và sự hợp tác trong quá trình dạy và học toán. Các thành phần và biểu hiện của năng lực giao tiếp và hợp tác trong dạy học toán Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 viết: “Môn Toán góp phần hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua việc nghe hiểu, đọc hiểu, ghi chép, diễn tả được các thông tin toán học cần thiết trong văn bản toán học; thông qua sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để trao đổi, trình bày được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác, đồng thời thể hiện sự tự tin, tôn trọng người đối thoại khi mô tả, giải thích các nội dung, ý tưởng toán học”. [4] Qua việc khảo cứu các tài liệu [3], [4] chúng tôi hiểu năng lực giao tiếp và hợp tác của HS trong học Toán như sau: Năng lực giao tiếp và hợp tác của HS trong học Toán là khả năng nghe hiểu, đọc hiểu, phân tích, đánh giá, nhận xét được các vấn đề toán học bao gồm vốn tri thức toán học, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ toán học, các dạng biểu diễn của toán học và khả năng diễn đạt, giải thích ý tưởng của mình một cách rõ ràng, ngắn gọn; hợp tác với thầy cô, bạn bè trong quá trình dạy học toán và thực hiện các hoạt động học tập trong giờ học toán.
9 Như vậy, năng lực giao tiếp và hợp tác của HS bao gồm các mặt: - Về kiến thức: HS có hiểu biết về những tri thức toán học; - Về kỹ năng: HS biết sử dụng ngôn ngữ toán học (các ký hiệu, thuật ngữ toán học, hình vẽ, đồ thị, biểu đồ, .) một cách chính xác, hợp lý; Các em biết sắp xếp, tổ chức, tự trình bày ý tưởng và nội dung học Toán một cách hiệu quả; đồng thời biết phối hợp với nhau trong các hoạt động học Toán, trong các hoạt động tương tác với thầy cô giáo.