Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Tong quan vấn đề nghiên cứu Xây dựng và sử dụng tinh hudng từng được biết đến trong các lĩnh vực của cuộc sống xã hội ở các nước trên thé giới và ở Việt Nam. Trong giáo dục - đảo tạo. tinh huống được biết đến như một đặc trưng cơ bản của các dạng day học tích cực.
Tống quan van đẻ nghiên cứu trước đây dé cập đến hai phạm vi lả lịch sử nghiên cứu tình huỗng trên thé giới va lich sử nghiên cứu tỉnh huỗng ớ Việt Nam. Lịch sứ nghiên cứu tình huống trên thế giới Tinh huéng vốn đã được sử dụng tử lâu trong lịch sử giáo dục thẻ giới. thậm chí tử thời cổ đại. Ở phương Đông.
phương pháp xứ lý tình huéng đã được đẻ cập đến trong nhiều kinh sách, văn học cổ qua các thời đại của Trung Quốc mà tiêu biểu là Đức Khổng Tử (551- 487 trước Công nguyên). với nhiễu tình huồng theo hướng nêu van đẻ đặc sắc. cá thé hóa tiếp nhận, phương pháp xử lý tình huống là những bai học quí báu vẻ rin dạy con người, được xem là tắm gương vẻ phương pháp giáo dục tích cực cho hậu thế. Nhật Bản cũng đã thực hiện phương pháp tinh hudng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong ngành quản lý, du lịch.
Bí quyết thành công trong xử lý tình huống của người Nhật Bản bao gồm bến bước: tỉnh huống — phân tích — tổng hợp — hanh động [15]. Với Hàn Quốc. để hướng tới một nên giáo dục hiện đại phục vụ cho việc phát triển đất nước, họ đã rat quan tâm đến việc giúp cho người học có năng lực giải quyết vấn đẻ. Ở phương Tây, Mỹ là nước sớm nghiên cứu và áp dụng tình huống trong giáo đục - dao tạo.
Năm 1870, giáo sư Christopher Columbus Langdell đã khởi xướng phương pháp dạy học tình huống cho khoa Luật của trường Đại học Kinh doanh Havard và đã được chap nhận một vai năm sau đó. Nam 1919, trường Dai hoc Western Ontario của Canada cùng đã bắt đầu áp dụng phương pháp tinh huéng (PPTH) trong dạy học kinh doanh nhờ su đũng cảm tiên phong của W. Sherwood Fox - Trưởng khoa Cơ bản.R Neville - Trưởng phòng Giáo dục. Dén nay, trường Kinh doanh Richard Ile của Dai học Western Ontarino đã trở thành cơ sở có uy tin số một ở Canada trong áp dụng PPTH vào giảng dạy Tại Pháp, ngay đầu thé ki XX, PPTH cũng đã được áp dụng rộng rãi nhưng tinh huông đưa ra bay giờ phan nhiều là giả định nên it có sức thuyết phục.
Từ những năm 1960, Gaxit sunfuricton de Vilard đã xảy dựng một giáo trình luân lý ma nội dung là những tình huống có thật. trong đó thây giáo xác định một số vẫn đẻ lý thuyết ngắn gọn. nêu tình huỗng cụ thé cho HS tranh luận với nhau, cuối cùng thầy là người đưa ra kết luận. Phương pháp này đã gây được tiếng vang trong toàn nước Pháp và sau đó được nghiên cứu, áp dụng trong nhiều ngành học khác nhau.
Dạy học tỉnh huống cũng rất được các nhả khoa học Liên Xô (cũ) và Ba Lan quan tâm. Tài liệu lý luận về đạy học của họ đã được dịch và phô biển ở Việt Nam từ cuỗi những năm 60 của thé ki XX, điển hình như: T. Machiuskin (1972); ngoài ra còn có LF. đặc biệt không thể không nhắc đến hai nhà nghiên cứu là V.
Okôn (Ba Lan) (1976) va Lla. Nhìn chung, kiểu dạy học sử dụng tỉnh huống được các tác giả dé cập đến là day học nêu vẫn dé - day học gidi quyết vẫn để. Những kinh nghiệm sử dung tình huông được nhắn mạnh vào mỗi quan hệ tương tác giữa giáo viên (GV) va HS (HS), trong đỏ hoạt động của GV được chủ ý. Tinh hudng có vấn dé trong dang dạy học này không chi đơn thuần lả những tình huồng có thật trong thực tế cuộc sống mà còn bao gồm cả những tình huống có tính lý luận nảy sinh trong quá trình nhận thức tài liệu học tập.
Từ dang dạy học nảy, ứng dụng của PPTH trong các ngành nghề, trong các lĩnh vực quản lý, trong hoạt động sản xuất, trong hoạt động nghiên cứu khoa học vả trong đào tạo nghé nghiệp dan dần được đặt ra. Nhiều tuyển tập, sách giáo khoa của các ngành học khác nhau được biên soạn nhằm phục vụ cho các giờ học có vận dung tình huống. Tir cuối những năm 60 cho đến đầu những năm 80 của thé ki XX, một nhóm các nhà nghiên cứu khác lại đi sâu vào tìm hiểu các tình huỗng có vẫn dé diễn ra trong giao tiếp su phạm. trong giáo dục HS.
Đó là fink huống sư phạm. Bônđarepxcaia với “Su khéo léo đối xử sư phạm” (1969) nhân mạnh một trong những biểu hiện rõ nét nhất của sự khéo léo đó là giải quyết các tỉnh hudng giáo dục. Tác giả coi đây là kỹ năng quan trọng nhất của người GV. Tiếp sau đó là một loạt các công trình nghiên cứu của L.
Có tác gia di sau vao tình hudng trong giáo dục gia đình. Tác giá đã đưa ra những tinh huồng kha phỏ biến trong giáo dục gia đình. qua đó các bậc phụ huynh cỏ thé học được những kinh nghiệm giáo dục. cho du ở khía cạnh nào, ching ta đều dé dang nhận thấy rằng PPTH đã có một chỗ đứng vả ngày cảng thể hiện được ưu thể của minh so với các hình thức giáo dục khác đương thời.
Trái với kiểu dạy học nêu vấn đẻ - đạy học giải quyết vấn đẻ chú trọng nhiều vào hoạt động của người GV, từ đầu những năm 90 của thé ki XX các tác giả phương Tây như: L. đã nghiên cứu việc xây đựng và sử dụng tinh hudng theo một hướng mới, đó là dạng học tập dwa trên vin để - học tập định hướng tới vẫn để © dây. các tác giả nhân mạnh. dé cao hoạt động của người học trong quá trình dạy học tích cực.
Những hướng dẫn cách thức thực hiện được thiết kế chủ yếu dé cập đến hoạt động của người học. Trong những năm dau của thẻ ki XXI, ở Mỹ và Ha Lan đã liên tiếp diễn ra những Hội thao Quốc té về day học tích cực nói chung vả học tập dựa trên van dé nói riêng, đánh đầu một bước tiền mới của PPTH trong day học. Ngoài 2 kiểu day học giải quyết van đẻ vả học tập dựa trên van đẻ nêu trên, các nhà nghiên cứu Pháp còn đưa ra 4ý thuyét tình huống (LTTH) và vận dụng nó vào quá trình day học. Tháng 3 năm 1990, trong phân trình bay tại Hội nghị chuyên dé Didactic toán đo trường ĐHSP Huế tổ chức, Anne Bessot và Francoise Richard [2] đã mở dau lý thuyết các tình huống bảng việc đặt ra nhiệm vụ phải “lý thuyết hóa hoạt động dạy học”, đặt tình huống giảng dạy trong một hệ thống những tác động qua lại giữa HS - GV — mỗi trường - kiến thức.
Trong đó, vai trò của GV được đặc trưng bởi 2 thao tác là quá trình ủy thác va quá trình thể chế hóa. Người HS được coi là chủ thể duy lý. HS được đặt trong mỗi quan hệ tác động qua lại với môi trường. Tháng 4 năm 1991, Claude Comiti [9] cho rằng GV phải tìm ra những tình huỗng có thé đem lại cho HS một cái nghĩa của kiến thức được đưa ra giảng day, Như vậy, ta có thé hiểu rõ hơn vẻ LTTH: việc học là một sự chỉnh lý kiến thức mà HS tự mình sản sinh ra.
côn GV chỉ gợi ra sự chỉnh lý đó bang cách lựa chọn giá trị của các biến tỉnh hudng. phương pháp dạy học tình huông đang ngảy cảng được các nha nghiên cứu, gido dục đảo tạo trên thẻ giới quan tâm và phát triển thành một trong những phương pháp day học hiện dai mang lại hiệu qua giao dục cao. Lịch sử nghiên cứu tình huống ở Việt Nam Phương pháp xử lý tinh hudéng cũng đã được hình thanh lâu đời trong lịch sử dựng nước va giữ nước của dân tộc Việt Nam. H6 Chi Minh - Vị anh hùng giải phóng đản tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thẻ giới.
được coi la người có tải xử lý tinh huỗng vào bậc nhất. muốn giải quyết van đẻ, trước tiên can phải nghiên cứu đẻ hiểu rõ cái gốc mâu thuẫn trong van dé là gì. phải xác định được đâu là mâu thuẫn chính, đâu là mâu thuẫn phụ. Người đưa ra 3 bước giải quyết van đẻ: dé ra nó: phan tích nó: giải quyết nó.
Trong cuộc sống, phép img xử. thuật đắc nhân tâm vốn đã được quan tam nay cảng được quan tầm và nghiên cứu nhiều hơn. Những câu chuyện dân gian, những câu chuyện lịch sử, những câu chuyện thường nhật điển hình vẻ ứng xử thường được viện dẫn trong những cuộc chuyện trò; được đưa ra đẻ tranh luận, trao đổi: dé rin day người khác với nhiều hình thức đa dạng va phong phú trên mọi phương tiện và cho mọi lửa tuổi. Điển hình như những cuộc thi có phan ứng xử; các chương trình truyền hình: Đường lên định Olympia, Ai đúng ai sai ?, Nữ sinh và tương lai,.; các chuyên mục về tình huông và ứng xử tình huống trong các báo và tạp chí.
Trong giáo dục vả đảo tạo, các nha nghiên cửu, giáo dục Việt Nam cũng đã sớm tiếp cận với việc xây dựng vả sử dụng tình huống trong các phương pháp dạy học tích cực và đã đạt được những thành tựu nhất định. Việc nghiên cứu tình huống trong hoạt động sư phạm cũng theo hai hướng. Một là, tình huống có vấn dé nhằm kích thích tư duy của HS trong dạy học. Đây là hướng ứng dụng những thành tựu của day học nêu vấn đẻ vào thực tiễn Việt Nam, chủ yếu tham khảo tải liệu của V.
Hai là, những tinh huỗng đối với các nhà quản lý và giáo dục. Phan Thế Sing và Lưu Xuân Mới đã lưu tâm tới điều này thông qua “Những cách xử thế trong quản lý trường học” (1998) [29] và “Tinh huống và cách ứng xử tình huống trong quản lý giáo dục và đào tao” (2000) [30]. số lượng các công trình nghiên cứu vẻ dạy học tình hudng ngày càng tăng lên, đa dạng vẻ hình thức, nội dung và phạm vi áp dụng. Đôi mới phương pháp dạy và học ở trường THPT 1.
Định hướng đối mới phương pháp day học Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy va học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1-1993). Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12-1996), Những vin dé này đều được thé hiện trong bộ SGK hóa học hiện nay nhưng vẫn còn cân bỏ sung và phát triển, cần có thêm những tư liệu hỗ trợ dạy học vả các hình thức tỏ chức dạy học phủ hợp.