Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Có thể nói “phát hiện ra, tìm ra” là những từ ngữ được xuất hiện cùng với thời vua Hiero II, Archimedes đã reo lên “Eureca! Eureca! - tìm ra rồi!” khi ông phát hiện ra cách kiểm tra xem chiếc vương miện của nhà vua có phải là vàng nguyên chất hay không (theo yêu cầu của nhà vua). Bằng kinh nghiệm của bản thân, khả năng tìm tòi, sáng tạo ông đã đưa nhân loại đến với những phát kiến vĩ đại.
Thế kỷ XII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn.Rousseau (thế kỉ XVIII ) là một nhà cải cách giáo dục người Pháp, ông cho rằng: “ Đối với phương pháp dạy học phải tìm hiểu đứa trẻ và tôn trọng khả năng tự nhận thức của nó. Trẻ em phải tự khám phá ra kiến thức và được khêu gợi tính tò mò tự nhiên” Những năm 1940 A. Rubinstien đã đưa ra thuyết hoạt động, nó là cơ sơ lý luận của phương pháp dạy học khám phá. Tuy nhiên người có công nghiên cứu để áp dụng thành công phương pháp dạy học này vào thực tiễn dạy học là Jerome Seymour Bruner với tác phẩm nối tiếng “The process of education” (1960), trong đó tác giả chỉ ra các yếu tố cơ bản của phương pháp học này là: - GV nghiên cứu nội dung bài học đến mức độ sâu cần thiết, tìm kiếm những yếu tố tạo tình huống, tạo cơ hội cho hoạt động khám phá.
- Thiết kế các hoạt động của HS trên cơ sở đó xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của GV. 5 Luan van - Khéo léo đặt người học vào vị trí của người khám phá (khám phá cái mới của bản thân), tổ chức và điều khiển cho quá trình này diễn ra một cách thuận lợi để từ đó người học xây dựng kiến thức cho bản thân. Nhiều nhà lý thuyết học, tâm lý học, cũng nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá như: Jean Piaget, John Dewey, Lev Vygotsky.1 Trong cuốn sách “Demoracy and Education”, Dewey mô tả học tập như là hành động nơi mà kiến thức và ý tưởng xuất hiện khi người học tương tác với những người khác trong một nhóm và xây dựng nên kiến thức của mình bằng cách áp dụng các kết luận từ kinh nghiệm trong quá khứ. Dewey tin rằng trẻ em có động lực học tự nhiên và giáo dục giúp cho quá trình học hiểu quả hơn.
Ông tin rằng, trí tuệ phát triển thông qua tương tác xã hội. Dewey thấy trẻ em phải là người chủ động tham gia vào quá trình học tập chứ không phải là người thu nhận. Theo Lev Vygotsky, văn hoá xã hội tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nhận thức, đặc biệt là sự tương tác của trẻ với những người khác ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của chúng (Rice &Wilson, 1999). Vygotsky giới thiệu khái niệm lý thuyết vùng phát triển gần.
Trong khái niệm này, ông đưa ra giả thuyết rằng có một sự khác biệt giữa những gì đứa trẻ có thể thực hiện độc lập với những gì chúng có thể thực hiện khi có sự hỗ trợ. Nói cách khác, một đứa trẻ có thể giải quyết một vấn đề phức tạp (ở độ tuổi của chúng) nếu chúng có bạn bè, thầy cô, bố mẹ hỗ trợ xây dựng các kinh nghiệm cần thiết. Một ví dụ điển hình cho học thuyết này là là sự khác biệt của một đứa trẻ ở nhà trẻ, đứa trẻ học được nhiều hơn so với những đứa trẻ không được đi nhà trẻ. Chúng sẽ có vốn từ vững nhiều hơn và có thể học được nhiều hơn kiến thức hơn từ cô giáo và bạn bè cùng đổ tuổi.
Vygotsky cho rằng, xác định nơi mà người học xây dựng và phát triển kinh nghiệm của chúng dưới sự hướng dẫn của người daỵ làm cho sự khám phá phong phú hơn. Theo Geofrey Petty cho rằng hai cách tiếp cận trong dạy học đó là: dạy học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. [23] 1 Discovery Learning for the 21st Century: What is it and how does it compare to traditional learning in effectiveness in the 21st Century? 6 Luan van Trong dạy học bằng giải thích, học sinh được giáo viên giảng kiến thức mới, học sinh phải sử dụng và ghi nhớ những kiến thức mới này. Còn với dạy học bằng cách đặt câu hỏi, giáo viên đặt câu hỏi hoặc giao bài tập yêu cầu học sinh phải tự tìm ra kiến thức mới- mặc dù vậy vẫn có sự hướng dẫn hoặc chuẩn bị đặc biệt.
Kiến thức mới này được giáo viên chỉnh sửa và khẳng định lại. Dạy học khám phá là một ví dụ của cách tiếp cận này. Dạy học khám phá chỉ có thể được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình. Consinet Roger, nhà giáo dục người Pháp vào nửa đầu thế kỷ XX, đứng trên quan điểm dạy học hoạt động, đã đề ra các hình thức tổ chức dạy học tích cực hơn.
Trong đó, ông đặc biệt chú ý tới phương pháp làm việc tự do, theo nhóm trong quá trình dạy học. Tác giả cho rằng, làm việc theo nhóm có nghĩa là: học sinh phải tìm tòi, khám phá, phải thực hiện những khảo cứu hay quan sát, phải cố gắng phân tích, tìm hiểu, diễn đạt, cần phải làm sao đòi hỏi ở trẻ một sự cố gắng sáng tạo cá nhân để giáo viên đưa trẻ đến việc tự mình khám phá trong các tình huống khác nhau, nhằm khơi dậy ở trẻ tinh thần nghiên cứu. Rassekh (1987) cho rằng: “Người thầy tồi là người đem kiến thức đến cho học sinh; nguời thầy giỏi làm cho học sinh tự tìm ra kiến thức”.Singh lại chỉ ra rằng: “Trong quá trình dạy học, người dạy và người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu và khám phá”. Những công trình nghiên cứu gần đây đều cho rằng: “Trong bối cảnh của sự gia tăng nhanh lượng kiến thức, cần có kiểu dạy học chú trọng đến việc dạy cách học hơn là việc dạy cái gì.
Khi đó, người học sẽ thu được kết quả tốt hơn là nhớ lại, nhắc lại các sự kiện. Muốn hình thành thói quen và kỹ năng này, cần sử dụng những phương pháp dạy học cho phép người học suy nghĩ một cách độc lập, tìm tòi dựa vào những phán đoán có lý”. Như vậy, trên thế giới quan niệm dạy học khám phá đã được nhắc đến từ lâu. Cũng từ lâu trong giáo dục đã xuất hiện các thuật ngữ “sự tự giáo dục”, “người tự giáo dục”.
Các nghiên cứu trên chỉ ra rằng phương pháp dạy học khám phá là một 7 Luan van trong những phương pháp dạy học tích cực, phương pháp này sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển nhận thức của trẻ. Trong nước Ở Việt Nam vấn đề giúp HS tự khám phá, tự có được những tri thức mới chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức, kỹ năng do thầy truyền thụ. Từ đó phát huy tính tích cực, chủ động của HS nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 60 của thế kỷ XX. Khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đi vào các trường Sư phạm từ thời điểm đó.
Phương pháp dạy học giúp HS tự khám phá, tự có được tri thức, kỹ năng mới, không học kiểu thụ động là một trong các phương hướng của cải cách giáo dục được triển khai ở các trường trung học phổ thông năm 1980. Tình trạng dạy học kiểu “thầy đọc, trò chép”, thầy truyền đạt kiến thức trò tiếp thu, thuyết tình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện…vẫn còn đang diễn ra. Cũng có những GV vận dụng các phương pháp dạy học tích cực phát huy tính tích cực của HS nhưng còn chưa nhiều, chưa kiên trì, chưa có bài bản. Các giờ dạy phát huy tính tích cực của HS còn mang tính “biểu diễn”, được thể hiện trong các giờ thao giảng, thi giáo viên giỏi.
Cho đến nay có nhiều người nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá, cụ thể đã có nhiều bài viết về đề tài này như: - Giáo trình “Phương pháp dạy học kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn. Trong đó, tác giả đề cập và phân tích phương pháp DHKP là quan điểm về phương pháp dạy học. - Giáo trình “Xu hướng dạy học không truyền thống” của tác giả Nguyễn Phú Lộc: Theo ông phương pháp dạy học khám phá là phương pháp dạy học tích cực, ông đưa ra khái niệm của dạy học khám phá, tầm quan trọng của dạy học khám phá từ đó ông đưa ra một số mô hình dạy học khám phá khái niệm toán học. - Năm 1999, tác giả Nguyễn Tuyết Nga đã viết luận án tiến sĩ về dạy học tự phát hiện.
Tác giả cho rằng dạy học tự phát hiện là một trong những phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, là con đường nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh. 8 Luan van Thông qua phương pháp này, học sinh hoạt động tự lực, tăng cường hành vi tìm tòi, phát hiện trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, làm cho người học thích ứng với cuộc sống, áp dụng đựơc kiến thức và kỹ năng học ở nhà trường vào cuộc sống. - Tìm hiểu "Cơ sở lí luận của lí thuyết kiến tạo trong dạy học" [13], tác giả Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị Hà đã phân tích cơ sở triết học, cơ sở tâm lí học và giáo dục học của lí thuyết kiến tạo, từ đó kết luận: "Theo quan niệm của lí thuyết kiến tạo thì hoạt động dạy được hiểu là hoạt động của GV nhằm tổ chức và điều khiển hoạt động học của HS. Khác với những lí thuyết dạy học khác, lí thuyết kiến tạo quan niệm GV không phải là người cung cấp những tri thức sẵn có cho HS mà phải là người hướng dẫn để HS tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập từ đó kiến tạo kiến thức cho bản thân".
Như vậy, nghiên cứu đã khẳng định dạy học khám phá là một trong những kiểu dạy học đặc thù của lí thuyết kiến tạo. - Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hồng Chi, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam “Dạy học dựa vào tìm tòi ở tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”.