CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Đầu thế kỉ XXI, ở các nước tiên tiến trên thế giới, công cụ dạy học BTT bắt đầu xuất hiện trong những lớp học và thể hiện tốt vai trò của nó là thu hút sự chú ý và tăng cường tính hợp tác của HS (Gatlin, 2004); (Diane D. Với những lợi ích mà BTT mang lại, nhiều lớp tập huấn về kỹ năng sử dụng BTT cũng như kỹ năng thiết kế bài dạy có sử dụng BTT đã được tổ chức.
Trong đó tập đoàn Promethean – cha đẻ của công cụ BTT Activboard, đã tổ chức nhiều khóa học trực tuyến lẫn không trực tuyến ở nhiều nước trên thế giới nhằm phát triển các kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin của GV. Hệ thống tài liệu trong khóa học được biên soạn chặt chẽ với giao diện bắt mắt và đầy đủ hình ảnh minh họa, hướng dẫn chi tiết. Tuy nhiên các tài liệu được biên soạn bằng tiếng Anh và chưa được dịch sang tiếng Việt, ít nhiều gây khó khăn trong việc sử dụng tài liệu của SV Việt Nam (Promethean, 2008). Tại Việt Nam, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, BTT đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 2010 – 2012.
Nhằm cung cấp các kiến thức nền tảng về BTT và cách thiết kế bài giảng có BTT nhiều đơn vị đã tổ chức những lớp tập huấn cho GV, SV như trường Đại học Sư phạm TPHCM, trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương,…. Các khóa học góp phần củng cố kiến thức công nghệ thông tin đồng thời giúp GV và SV có cái nhìn gần gũi hơn về bảng tương tác. Tuy nhiên phần lớn các tài liệu sử dụng cho các lớp tập huấn trên được lưu hành nội bộ gây khó khăn cho GV và SV trong việc tìm kiếm thông tin tài liệu. Một số tài liệu được đăng tải trên các kênh truyền thông.
Đánh giá chung, các tài liệu có phần hướng dẫn tương đối chi tiết về các kĩ thuật, thao tác thực hiện một số tính năng dạy học tương tác. Các kiến thức được trình bày dưới dạng văn bản nên ít nhiều vẫn còn mang tính trừu tưởng gây khó khăn đến quá trình tự học, tự thao tác của GV, SV. Mặt khác tài liệu trình bày các kĩ thuật, thao tác ở dạng liệt kê các Luan van - 17 - hướng dẫn, thiếu đi hệ thống bài tập rèn luyện lẫn các mô hình hoạt động dạy học gợi ý, nên sau khi sử dụng tài liệu, GV và SV mặc dù đã có thể thực hiện các thao tác nhưng vẫn gặp khó khăn ở việc ứng dụng các kĩ thuật ấy vào thực tiễn thiết kế hoạt động dạy học. (VietAnh Computer, 2010) Bên cạnh các khóa học uy tín, chất lượng, và có kiểm định từ chuyên gia, trên các phương tiện thông tin truyền thông và mạng xã hội, nhiều GV thuộc cộng đồng GV tích cực đã chia sẻ các kinh nghiệm cá nhân của mình thông qua các bài đăng, đoạn phim, hình ảnh, … Các bài chia sẻ được thiết kế khoa học và được trình bày dưới dạng các phương tiện trực quan nên tạo điều kiện thuận lợi để GV và SV theo dõi và thực hiện theo.
Tuy nhiên các bài chia sẻ trên vẫn còn mang tính cá nhân và xây dựng dựa trên kinh nghiệm của GV vì thế còn mang tính tự phát, các kiến thức còn rời rạc, thiếu hệ thống, gây khó khăn cho GV và SV trong việc hình thành kiến thức nền tảng và hạn chế khả năng tự nghiên cứu của người học. Nhằm khắc phục các thực trạng trên, một số công trình nghiên cứu về các phần mềm thiết kế bài giảng bằng BTT đã được thực hiện. Có thể nhìn nhận ở các bài tiểu luận, luận văn sau: - Lê Trung Thu Hằng (2011), Sử dụng hệ thống dạy học tương tác Activboard trong dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ. - Lê Thị Thơ (2011), Sử dụng phần mềm Activinspire thiết kế bài lên lớp phần Hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ.
- Nguyễn Thị Ngọc Linh (2012), Sử dụng phần mềm Activinspire và phương tiện tương tác Activboard trong dạy học Hóa học lớp 9 trung học cơ sở, Luận văn thạc sĩ. - Nguyễn Minh Việt (2012), Sử dụng phần mềm Activinspire trong dạy học phần kim loại lớp 12 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ. - Phạm Quang Tiến (2011), Ứng dụng phần mềm Activinspire để thiết kế bải giảng môn Sinh học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, Tiểu luận. Nhìn chung các công trình trên đã trình bày được những lợi ích của việc sử dụng bảng tương tác.
Bên cạnh đó các đề tài còn đưa ra một số hướng dẫn nhất định về các phần mềm thiết kế bài giảng, cụ thể là phần mềm Activinspire. Tuy vậy các hướng dẫn Luan van - 18 - vẫn chỉ dừng ở mức giới thiệu, chưa đi sâu vào việc làm nổi bật đặc điểm của các tính năng và các thao tác, kĩ thuật với những tính năng đó. Đề tài vẫn chưa liên kết các nội dung kiến thức, kĩ thuật, thao tác với nhau cũng như chưa chỉ ra cách ứng dụng của những tính năng đó trong thiết kế hoạt động dạy học tương tác. Như vậy nhìn chung các công trình nghiên cứu về việc xây dựng tài liệu hướng dẫn GV, SV sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động tương tác vẫn còn chưa nhiều, hoặc nếu có các tài liệu vẫn chỉ dừng ở mức hướng dẫn thực hiện thao tác, chưa đưa ra nhiều ví dụ gợi ý cách ứng dụng các kĩ thuật, thao tác ấy để thiết kế hoạt động dạy học phù hợp trong môn Hóa học có sử dụng BTT.
Phương pháp dạy học trong bối cảnh cách mạng 4. Bối cảnh giáo dục trong cuộc cách mạng 4.0 Nhân loại đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp lớn. Cứ mỗi cuộc cách mạng trải qua, bức tranh về kinh tế, xã hội và đặc biệt là giáo dục lại có sự thay đổi đáng kể. Với cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 khi điện và kĩ thuật công nghệ dần phát triển, giáo dục đã có sự thay đổi đáng kể về cả nội dung kiến thức lẫn phương pháp và phương tiện giảng dạy.
Các tiết học bắt đầu sử dụng hàng loạt các công cụ hiện đại như máy tính, điện thoại thông minh, máy chiếu, tivi, … Sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy đã kích thích sự hứng thú, tò mò của HS từ đó tiết học trở nên sinh động và chất lượng giáo dục đã được cải thiện rõ rệt. Đến với cuộc cách mạng 4.0 khi các xu hướng công nghệ mới kết hợp cùng mạng Internet, đời sống con người sẽ trở nên văn minh, hiện đại và tiện nghi hơn. Những đột phá của công nghệ như máy in 3D, công nghệ nano, người máy,… dần có tác động mạnh mẽ đến đời sống và sản xuất của con người đặc biệt là vấn đề nhân lực lao động. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật kéo theo sự can thiệp của máy móc vào lĩnh vực sản xuất của con người.
Các công ti, nhà máy, xí nghiệp cũng dần “tự động hóa”, máy móc dần thay thế các công việc đơn giản, có tính lặp lại – những việc trước đây vốn do con người thực hiện. Vì thế trong bối cảnh mới, nếu không có sự chuẩn bị và đầu tư đúng mực, con người sẽ bị đào thải khỏi các hoạt động lao động và sản xuất. Từ đó có thể thấy trong giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc Luan van - 19 - định hướng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu của giáo dục nằm ở việc rèn luyện không chỉ năng lực mà còn bồi dưỡng phẩm chất của người học để từ đó cung cấp cho xã hội nguồn lao động giàu chuyên môn và có năng lực công tác tốt.
Bên cạnh yếu tố nhân lực, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sự phát triển của khoa học, công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết mọi lĩnh vực. Nếu như trước đây với sự phát triển của máy tính và mạng Internet, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy là điều được khuyến khích thực hiện thì ngày nay nó đã trở thành trách nhiệm của người dạy trong lớp học. Vì thế vai trò của người GV trong bối cảnh mới là phải biến những ứng dụng của công nghệ thông tin trở thành phương tiện hỗ trợ bài dạy giúp quá trình học tập trên lớp diễn ra tích cực, sinh động và giúp người học không chỉ lĩnh hội đầy đủ kiến thức mà còn phát huy được tối đa năng lực của bản thân. Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho rằng giáo dục có “bốn trụ cột” lớn là “Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; Học để chung sống”.
Qua đó có thể thấy, mục tiêu của giáo dục không chỉ dừng lại ở việc đào tạo chuyên môn cho HS mà cao quý hơn là hướng HS đến việc hoàn thiện nhân cách cũng như có lối sống hòa nhập với cộng đồng, với xã hội. Vì thế trong bối cảnh 4.0, khi những tiện ích của khoa học và công nghệ bắt đầu can thiệp vào đời sống của con người thì việc “chung sống” giữa người và người cũng từ đó có những “trở ngại” nhất định. Giáo dục HS với những tiến bộ của khoa học công nghệ nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các yếu tố giúp HS tương tác với nhau, tương tác với môi trường xung quanh là một trong số những trách nhiệm mà nhà giáo dục 4.0 cần phải hiểu rõ. Tóm lại, bức tranh về giáo dục trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là sự dung hòa giữa yếu tố công nghệ, kĩ thuật và yếu tố phát triển năng lực và phẩm chất của người học.
Khái niệm phương pháp dạy học Dạy học là quá trình phức tạp và được thực hiện bởi sự đan xen giữa hoạt động dạy và hoạt động học nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học nhất định (Nguyễn Văn Tuấn, 2009). Để quá trình dạy học được diễn ra hiệu quả đồng thời giải quyết được những nhiệm vụ của giáo dục, người dạy phải chọn lựa những cách thức phù hợp để triển khai Luan van - 20 - các hoạt động trên lớp học – đó gọi là phương pháp dạy học (Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương, Dương Xuân Trinh, 1982) Như đã nói về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đòi hỏi quan điểm giáo dục, hướng tiếp cận giáo dục và các phương pháp giáo dục cần có sự thay đổi phù hợp.