Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC THEO TIẾP CẬN PISA CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) đã tạo ra một lịch sử dài và ảnh hưởng đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục trên toàn thế giới. Dưới đây là một cái nhìn tổng quan về lịch sử nghiên cứu của PISA: + Nghiên cứu ban đầu (2000-2003): Sau khi PISA ra mắt vào năm 2000, các nghiên cứu ban đầu đã tập trung vào việc phân tích kết quả đầu tiên của chương trình này.
Các nghiên cứu này đã thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất học tập và chất lượng giáo dục, cũng như sự khác biệt giữa các quốc gia và khu vực tham gia. + Mở rộng và đa dạng hóa nghiên cứu (2003-2006): Trong giai đoạn này, sự quan tâm đến PISA đã tăng lên và nghiên cứu đã tập trung vào việc phân tích kết quả chi tiết hơn. Các nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố như vai trò của gia đình, trường học, giáo viên và chính sách giáo dục trong việc xác định hiệu suất học tập của học sinh. + Tác động vào chính sách giáo dục (2006-2010): Trong giai đoạn này, PISA đã bắt đầu có tác động đáng kể đến chính sách giáo dục trên toàn thế giới.
Các nghiên cứu đã tập trung vào việc đo lường tác động của PISA đối với chính sách và sự thay đổi trong hệ thống giáo dục. Nghiên cứu cũng đã xem xét cách các quốc gia sử dụng kết quả PISA để cải thiện chất lượng giáo dục của mình. + Kỷ nguyên số và dữ liệu mở (2010-2014): Với sự phát triển của công nghệ và dữ liệu số, PISA đã mở ra cơ hội mới cho các nghiên cứu. Các nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào việc sử dụng, phân tích số liệu lớn và dữ liệu mở để khai thác thông tin từ PISA một cách chi tiết và sâu sắc hơn.
Các nghiên cứu này đã giúp cung cấp thông tin quan trọng về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất học tập và chất lượng giáo dục. + Phát triển và cải thiện (2014-đến nay): Trong giai đoạn hiện tại, nghiên cứu về PISA tiếp tục phát triển và cải thiện. Các nghiên cứu tập trung vào việc tăng cường việc sử dụng kết quả PISA để định hình chính sách giáo dục và thực hiện cải tiến trong hệ thống giáo dục trên toàn thế giới. Nghiên cứu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển và tiến bộ của hệ thống giáo dục theo thời gian.
Trong suốt lịch sử nghiên cứu của PISA, nhiều công trình nghiên cứu quan trọng đã được công bố và có ảnh hưởng đáng kể đến lĩnh vực giáo dục. Các nghiên cứu này đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu suất học tập, yếu tố ảnh hưởng và tác động của chính sách giáo dục trên toàn cầu. Ở Việt Nam Giáo dục Việt Nam trong năm 2012 có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 học sinh (HS) ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với hơn 70 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và 4 phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và triển khai) từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2012. Cho tới nay, Việt Nam đã tham gia 4 kỳ PISA.
Lần đầu tiên Việt Nam tham gia PISA 2012 đã được vào top 20, đến chu kỳ lần thứ 2 tham gia năm 2015, Việt Nam tiếp tục giữ thứ hạng cao, được vào top 10 trên tổng số 72 nước tham gia; và chu kỳ gần đây nhất là vào năm 2022, kết quả đã được công bố vào tháng 12 năm 2023 và Việt Nam đứng thứ 2 ở khu vực ASEAN sau Singapore. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA được đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về NL của học sinh. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu và một số bài viết về PISA. Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Kim Chi, Nguyễn Thùy Linh đã đưa ra mục đích, tiến trình thực hiện và các kết quả chính của việc thực hiện Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA).
Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn cũng góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA). Thông qua Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA tại Việt Nam của tác giả Lê Thị Mỹ Hà đã giúp cho tôi định hướng thiết kế các bài tập theo hướng tiếp cận PISA. Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Văn Minh trong luận văn thạc sĩ ở Trường Đại học Vinh đã thiết kế và sử dụng hệ thống BTHH ở THPT theo hướng tiếp cận chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA. Định hướng đổi mới chường trình giáo dục phổ thông 1.
Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, các thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá, xã hội còn có nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững. Một trong số những nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, tình trạng học chỉ để thi khiến cho nhiều học sinh xa rời thực tế cuộc sống, thậm chí không biết tự chăm sóc bản thân, không biết làm việc nhà và rất ngại lao động. Tình trạng đó đang làm lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức của gia đình, xã hội và bản thân người học mà không tạo ra được lớp người có đủ NL để trở thành lực lượng lao động góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 29 chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT. Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88 quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và NL, hài hoà đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Định hướng về đổi mới mục tiêu, nội dung giáo dục ở Việt nam 1.
Đổi mới mục tiêu Mục tiêu chung của GDPT là nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, NL và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho HS củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy NL cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới nội dung giáo dục ở Việt Nam Các nội dung chương trình đổi mới GDPT trong nội dung chương trình. Cần đảm bảo các nội dung căn bản về kiến thức.
Đòi hỏi đáp ứng đủ một số các yêu cầu sau đây: - Những kiến thức căn bản, phù hợp lứa tuổi, trình độ văn hóa và nhận thức của HS. - Kiến thức cần thiết thực, hiện đại và phù hợp với thực tế đời sống. Có khả năng cao trong vấn đề áp dụng vào cuộc sống. - Khung chương trình giáo dục cần được xây dựng cụ thể.
Có sự mở rộng, toàn cầu hóa trong giáo dục. Nội dung kiến thức tiệm cận so với khung giáo dục chuẩn yêu cầu quốc tế. SGK được xây dựng, đổi mới phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế. Trong thời buổi toàn cầu hóa, quốc tế hóa.
Định hướng đổi mới phương pháp giáo dục nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh trung học phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "Truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành NL và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển NL xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển NL giải quyết các vấn đề phức hợp.
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển NL tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin.), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”. 6 Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học.