Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 đánh dấu sự chuyển dịch căn bản của nền giáo dục Việt Nam từ mô hình định hướng truyền thụ kiến thức sang mô hình định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT, việc gắn liền kiến thức hàn lâm với kỹ năng hành động và giải quyết các vấn đề thực tiễn trở thành nhiệm vụ cấp thiết.

Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên có tính thực nghiệm và ứng dụng cao. Tuy nhiên, thực tế dạy học Hóa học tại các trường trung học phổ thông (THPT) hiện nay vẫn tồn tại tình trạng nặng về lý thuyết trừu tượng và các dạng bài toán tính toán phức tạp, ít gắn liền với đời sống. Điều này dẫn đến việc học sinh chưa nhận thức rõ mối liên hệ giữa hóa học, công nghệ, môi trường và con người, làm suy giảm hứng thú học tập. Tiếp cận đánh giá của Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế (PISA - Programme for International Student Assessment) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khởi xướng được xem là giải pháp phù hợp để khắc phục hạn chế trên, giúp học sinh phát triển năng lực khoa học thông qua các bối cảnh thực tế.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quy trình thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học theo hướng tiếp cận PISA nhằm phát triển năng lực hóa học cho học sinh THPT, nâng cao chất lượng dạy học và đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về bài tập tiếp cận PISA và phát triển năng lực hóa học.
    2. Tìm hiểu khung đánh giá năng lực khoa học của chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA.
    3. Điều tra, khảo sát thực trạng sử dụng bài tập theo tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học ở trường THPT hiện nay.
    4. Nghiên cứu phương pháp thiết kế và xây dựng hệ thống bài tập, tiến trình sử dụng bài tập theo tiếp cận PISA trong dạy học chủ đề “Các nguyên tố nhóm VIIA” (Hóa học 10) và “Đại cương về kim loại” (Hóa học 12).
    5. Tiến hành khảo nghiệm sư phạm và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng.
  • Khách thể và đối tượng nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT; đối tượng nghiên cứu là hệ thống bài tập phát triển năng lực hóa học theo tiếp cận PISA dành cho học sinh THPT.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các dạng bài tập thuộc chủ đề “Các nguyên tố nhóm VIIA” (chương trình Hóa học 10) và “Đại cương về kim loại” (chương trình Hóa học 12) theo định hướng chương trình GDPT 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên khung văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục tại Việt Nam, bao gồm Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Chương trình GDPT tổng thể môn Hóa học năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về mặt lý thuyết năng lực, tác giả đối chiếu và tích hợp khung năng lực khoa học PISA 2018 của OECD với cấu trúc năng lực hóa học đặc thù của Việt Nam:

  • Năng lực Hóa học (Bộ GD-ĐT 2018): Gồm 3 năng lực thành phần: (1) Nhận thức hóa học; (2) Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học; (3) Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
  • Năng lực Khoa học PISA 2018 (OECD): Đánh giá dựa trên 4 khía cạnh (kiến thức, năng lực, bối cảnh, thái độ) với 3 nhóm biểu hiện chính: Giải thích hiện tượng khoa học, Đánh giá và thiết kế nghiên cứu khoa học, Diễn giải dữ liệu và bằng chứng một cách khoa học.
  • Cấu trúc bài tập chuẩn PISA: Gồm 4 thành phần bắt buộc: (1) Phần dẫn (tạo dựng ngữ cảnh thực tiễn); (2) Phần câu hỏi (nhiệm vụ nhận thức rõ ràng); (3) Phương án trả lời (đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan hoặc đúng/sai phức hợp); (4) Hướng dẫn mã hóa (coding guide theo các cấp độ: Đạt tối đa/Đầy đủ, Đạt một phần/Chưa đầy đủ, Không đạt).

Tác giả sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận về phương pháp dạy học Hóa học, các tài liệu PISA quốc tế và tại Việt Nam (các công trình của Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Minh), chương trình và sách giáo khoa Hóa học THPT mới.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Khảo sát thực trạng: Sử dụng bảng hỏi, biểu mẫu khảo sát trực tuyến và phỏng vấn trực tiếp đối với 16 giáo viên Hóa học tại 03 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: THPT Thanh Khê, THPT Ngô Quyền và THPT Ngũ Hành Sơn; kết hợp dự giờ và nghiên cứu kế hoạch bài dạy.
    • Lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn giảng viên phương pháp dạy học Hóa học và giáo viên THPT cốt cán về tính khoa học và cấu trúc của hệ thống bài tập.
    • Khảo nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học khảo nghiệm tại trường THPT nhằm kiểm tra mức độ đáp ứng, tính khả thi và hiệu quả của các bài tập đối với việc phát triển năng lực học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập Hóa học theo tiếp cận PISA cho học sinh trung học phổ thông

Chương này trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu PISA trên thế giới (qua 5 giai đoạn từ năm 2000 đến nay: nghiên cứu ban đầu 2000–2003, mở rộng 2003–2006, tác động chính sách 2006–2010, dữ liệu mở 2010–2014, phát triển và cải thiện 2014–nay) và tại Việt Nam (Việt Nam tham gia các chu kỳ 2012, 2015, 2018, 2022; trong đó chu kỳ 2012 đạt top 20, chu kỳ 2015 đạt top 10/72 quốc gia, chu kỳ 2022 xếp thứ 2 khu vực ASEAN).

Tác giả thiết lập bảng so sánh chi tiết giữa biểu hiện năng lực hóa học theo chương trình GDPT 2018 và năng lực khoa học PISA 2018, làm rõ yêu cầu đổi mới bài tập theo hướng giảm tải tính toán hàn lâm, tăng tính thực tiễn và tích hợp liên môn. Kết quả điều tra thực trạng trên 16 giáo viên Hóa học tại Đà Nẵng cho thấy:

Tiêu chí khảo sát Lựa chọn của giáo viên Tỷ lệ (%)
Mức độ hiểu biết về bài tập PISA Đã nghiên cứu, sử dụng trong dạy học 50,0%
Chưa biết 25,0%
Biết sơ lược qua truyền thông 12,5%
Đã tìm hiểu 12,5%
Đánh giá về tính cần thiết/phù hợp Rất phù hợp với chương trình giáo dục 50,0%
Nên sử dụng nhưng cần có hướng dẫn cụ thể 25,0%
Thích hợp ở chủ đề đơn giản 25,0%
Không phù hợp 0,0%
Khó khăn lớn nhất khi thiết kế Vận dụng tình huống thực tiễn 37,5%
Chưa có kĩ năng thiết kế 25,0%
Chưa hiểu hệ thống năng lực học sinh 25,0%
Chưa nắm được quy trình 12,5%
Mức độ sử dụng trong giảng dạy Thường xuyên 0,0%
Thỉnh thoảng (dạy bài mới / củng cố) 37,5%
Hiếm khi (dạy bài mới / củng cố) 67,5%
Chưa bao giờ dùng để kiểm tra đánh giá 50,0%

Số liệu phản ánh phần lớn giáo viên nhận thức được vai trò tích cực của bài tập PISA nhưng gặp rào cản lớn về kỹ năng biên soạn tình huống thực tế và quy trình mã hóa đáp án, dẫn đến tỷ lệ ứng dụng thường xuyên bằng 0%.


Chương 2: Thiết kế và sử dụng bài tập theo tiếp cận PISA cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học chủ đề “Các nguyên tố nhóm VIIA” và “Đại cương về kim loại”

Chương 2 phân tích nội dung, yêu cầu cần đạt của hai chủ đề theo chuẩn GDPT 2018 và xây dựng hệ thống bài tập thực tế gắn với tiêu chuẩn PISA, bao gồm bối cảnh, câu hỏi đa dạng (tự luận, trắc nghiệm, đúng/sai mở rộng) và tiêu chí mã hóa (coding guide) chi tiết:

  1. Chủ đề “Các nguyên tố nhóm VIIA” (Hóa học 10):

    • Bài 1: Ứng dụng hydrofluoric acid ($HF$) để ăn mòn silicate ($SiO_2$) tạo phức $H_2SiF_6$ trong kỹ thuật khắc hoa văn trên thủy tinh phủ sáp.
    • Bài 2: Đánh giá tác động gây suy giảm tầng ozone và ô nhiễm của fluorine ($F_2$); đề xuất các giải pháp sử dụng năng lượng sạch.
    • Bài 3: Tính chất sát khuẩn của chlorine ($Cl_2$) qua phản ứng tạo hypochlorous acid ($HClO$); giải quyết bài toán định lượng xử lý nước sinh hoạt cho thành phố Đà Nẵng với định mức $5\text{ g/m}^3$ ($1\text{ triệu dân} \times 100\text{ lít/ngày} = 10^5\text{ m}^3\text{ nước} \rightarrow 5.000\text{ kg } Cl_2/\text{ngày}$).
    • Bài 4: Cơ chế bổ sung fluoride ($F^-$) vào men răng thay thế nhóm $-OH$ tạo fluoroapatite ($Ca_5(PO_4)_3F$) chống mòn men do acid lactic/acetic.
    • Bài 5: Tác hại thiếu hụt iodine (bướu cổ, thiểu năng) và quy trình bảo quản muối ăn tránh bị phân hủy bởi ánh sáng và nhiệt độ.
    • Bài 6: Tính chất tẩy màu, diệt khuẩn của nước Javen ($NaClO$) và quy tắc an toàn bảo hộ lao động khi sử dụng hóa chất gia dụng.
    • Bài 7: Quá trình tái sinh hạt nhựa trao đổi cation bằng dung dịch $HCl$ loãng và lưu ý khi thay thế bằng $H_2SO_4$ (tránh kết tủa $CaSO_4$).
    • Bài 8: Cơ chế dùng acid $HCl$ để tẩy lớp gỉ sét $Fe_2O_3$ trên bề mặt thép ($2HCl + Fe_2O_3 \rightarrow 2FeCl_3 + 3H_2O$).
    • Bài 9: Kỹ thuật xử lý sự cố rơi vãi bromine lỏng bằng nước vôi tôi ($Ca(OH)_2$) và tính hiệu suất điều chế $Br_2$ từ nước biển ($66,56%$).
  2. Chủ đề “Đại cương về kim loại” (Hóa học 12):

    • Bài 1: Đánh cảm bằng trang sức bạc (tác dụng với $H_2S$ sinh hóa tạo kết tủa đen $Ag_2S$) và mẹo làm sáng bằng $NH_3$ trong nước tiểu (tạo phức $[Ag(NH_3)_2]^+$) hoặc đun nóng trong acid/phèn chua.
    • Bài 2: Đặc tính chống ăn mòn của nhôm nhờ màng oxit $Al_2O_3$ mịn màng, bền vững và ứng dụng sản xuất đồ gia dụng nhẹ, dẫn nhiệt tốt.
    • Bài 3: Xử lý thủy ngân ($Hg$) rơi vỡ từ nhiệt kế y tế bằng bột lưu huỳnh ($S$); tính toán khoảng nhiệt độ chuyển trạng thái từ $-60^\circ\text{C}$ sang điểm sôi $356,73^\circ\text{C}$ (cần tăng $296,73^\circ\text{C}$).
    • Bài 4: Ứng dụng nhôm trong dây dẫn điện cao thế nhằm giảm tải trọng cột điện; lưu ý không dùng nồi nhôm đun chứa thức ăn chua, môi trường acid.
    • Bài 5: Tính dẻo của kim loại vàng trong tranh sơn mài (dát mỏng độ dày $10^{-4}\text{ mm}$, tính diện tích phủ bề mặt của $1\text{ chỉ vàng } = 3,75\text{ g}$ với khối lượng riêng $19,32\text{ g/cm}^3$).
    • Bài 6: So sánh cơ chế bảo vệ anôt của mái tôn (sắt mạ kẽm $Zn$) và sắt tây (sắt mạ thiếc $Sn$) trong khí quyển ẩm.
    • Bài 7: Cơ chế diệt khuẩn của ion bạc trong y học hiện đại và y học cổ truyền.
    • Bài 8: Cấu trúc dây cáp điện nhôm trần lõi thép chống ăn mòn gió biển và chịu lực kéo căng trên không.
    • Bài 9: Khảo sát hiện tượng gỉ sét của khung ô dù hợp kim thép đặt tại các khu nghỉ dưỡng ven biển Đà Nẵng dưới tác động của ion muối $Cl^-$.
    • Bài 10: Cơ chế chống ăn mòn điện hóa cho mạn tàu biển bằng phương pháp gắn các khối kẽm ($Zn$ đóng vai trò anot bị ăn mòn thay thế cho vỏ tàu thép).
    • Bài 11: Quy trình thu hồi vàng bằng phương pháp tạo hỗn hống thủy ngân ($Hg-Au$), hòa tan bằng $HNO_3$ loãng và xử lý khí thải độc hại $NO$ qua dung dịch $NaOH$ ($6NO + 4NaOH \rightarrow 4NaNO_2 + N_2 + 2H_2O$).

Chương này cũng xây dựng các kế hoạch bài dạy (giáo án minh họa) tích hợp bài tập PISA vào các hoạt động khởi động, hình thành kiến thức và luyện tập.


Chương 3: Khảo nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày quy trình và kết quả khảo nghiệm sư phạm:

  • Mục đích: Đánh giá tính khả thi, độ tin cậy và hiệu quả thực tiễn của hệ thống bài tập Hóa học tiếp cận PISA trong việc phát triển năng lực nhận thức và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh.
  • Tiến trình: Lựa chọn các lớp khảo nghiệm tại trường THPT Thanh Khê và THPT Ngô Quyền (Đà Nẵng); tiến hành kiểm tra đánh giá trước và sau khảo nghiệm; thu thập dữ liệu bằng phiếu hỏi ý kiến đối với giáo viên và học sinh sau khi học tập các chủ đề.
  • Kết quả khảo nghiệm: Phân tích định lượng điểm số học kỳ I và bài kiểm tra sau khảo nghiệm cho thấy học sinh có sự chuyển biến rõ rệt về kỹ năng lập luận khoa học, khả năng phân tích dữ liệu thực tế và tăng hứng thú học tập đối với bộ môn Hóa học.

Kết quả và đóng góp

Hệ thống kết quả và đóng góp của đề tài được tổng hợp qua các mặt sau:

Nhóm nội dung Kết quả cụ thể được ghi nhận trong văn bản
Cơ sở lý luận Thiết lập bảng đối chiếu tương đương giữa các chỉ số hành vi của năng lực hóa học (theo CT GDPT 2018) và 3 năng lực thành phần của PISA 2018; chuẩn hóa quy trình 4 bước thiết kế bài tập tiếp cận PISA.
Khảo sát thực tiễn Thu thập và xử lý định lượng dữ liệu từ 16 giáo viên Hóa học tại 3 trường THPT Đà Nẵng, xác định nguyên nhân chính hạn chế ứng dụng PISA là thiếu kỹ năng chuyển hóa tình huống đời sống (37,5%).
Xây dựng hệ thống bài tập Thiết kế hoàn chỉnh 20 bài tập tình huống thực tiễn chuyên sâu (9 bài nhóm VIIA, 11 bài Kim loại) kèm ma trận mã hóa chuẩn 3 mức độ (Đầy đủ - Chưa đầy đủ - Không đạt).
Kế hoạch bài dạy Biên soạn giáo án thực nghiệm sư phạm minh họa phương pháp tổ chức hoạt động học tập dựa trên bài tập tiếp cận PISA.
Đánh giá sư phạm Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của học sinh qua các bảng số liệu khảo nghiệm tại trường THPT Thanh Khê và THPT Ngô Quyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô khảo sát thực trạng và khảo nghiệm sư phạm mới chỉ dừng lại ở 16 giáo viên và một số lớp học sinh thuộc 03 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (THPT Thanh Khê, THPT Ngô Quyền, THPT Ngũ Hành Sơn).
    • Nội dung bài tập được thiết kế mới tập trung vào 02 chủ đề trọng tâm là “Các nguyên tố nhóm VIIA” (lớp 10) và “Đại cương về kim loại” (lớp 12), chưa bao phủ toàn bộ chương trình Hóa học phổ thông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng xây dựng ngân hàng bài tập tiếp cận PISA cho tất cả các chủ đề còn lại của chương trình Hóa học 10, 11 và 12 (đặc biệt là mảng Hóa học hữu cơ và các quá trình hóa học môi trường).
    • Triển khai khảo nghiệm sư phạm diện rộng trên nhiều tỉnh, thành phố để kiểm tra độ tin cậy và tính tương thích của hệ thống bài tập đối với nhiều đối tượng học sinh có học lực khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Hóa học THPT: Cung cấp nguồn tư liệu bài tập thực tế chuẩn hóa theo cấu trúc PISA cùng hướng dẫn mã hóa đáp án cụ thể, hỗ trợ trực tiếp công tác biên soạn đề kiểm tra đánh giá định kỳ theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình GDPT 2018.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học: Cung cấp mô hình tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu giáo dục, kỹ thuật thiết kế tình huống thực tiễn gắn với kiến thức hóa học vô cơ và kim loại.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và biên soạn chương trình: Đóng góp cơ sở thực chứng về việc tích hợp khung đánh giá quốc tế PISA vào dạy học khoa học tự nhiên tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các tiêu chí nào để mã hóa (coding) kết quả trả lời của học sinh theo chuẩn PISA?
Tác giả áp dụng quy tắc mã hóa 3 cấp độ chuẩn của PISA: Mức đầy đủ (học sinh trả lời chính xác bản chất hóa học, giải thích logic và viết đúng phương trình/tính toán đúng); Mức chưa đầy đủ (học sinh nêu đúng kết luận nhưng giải thích thiếu điều kiện, thiếu ý hoặc sai sót số liệu nhỏ); Mức không đạt (trả lời sai bản chất hoặc bỏ trống không làm bài).

2. Vì sao hydrofluoric acid ($HF$) được chọn làm tình huống khắc chữ trên thủy tinh trong hệ bài tập nhóm VIIA?
Dựa trên tính chất đặc thù của $HF$, acid này có khả năng phản ứng trực tiếp với thành phần chính của thủy tinh là silicon dioxide ($SiO_2$) tạo thành phức $H_2SiF_6$ (hoặc khí $SiF_4$), làm ăn mòn bề mặt thủy tinh tại các vị trí đã cạo lớp sáp bảo vệ. Các acid mạnh khác như $HCl$ hay $H_2SO_4$ không có phản ứng này.

3. Khó khăn lớn nhất của giáo viên THPT tại Đà Nẵng khi thiết kế bài tập PISA theo kết quả khảo sát là gì?
Theo kết quả khảo sát 16 giáo viên tại 3 trường THPT ở Đà Nẵng, khó khăn lớn nhất là việc tìm kiếm và vận dụng các tình huống thực tiễn đời sống vào bài tập (chiếm 37,5%), tiếp theo là thiếu kỹ năng thiết kế bài tập (25%) và chưa hiểu rõ hệ thống biểu hiện năng lực của học sinh (25%).

4. Bài tập bảo vệ mạn tàu biển trong khóa luận giải thích cơ chế chống ăn mòn kim loại như thế nào?
Bài tập khai thác nguyên lý ăn mòn điện hóa học: Vỏ tàu bằng gang/thép ($Fe$) tiếp xúc với chất điện li nước biển được gắn các khối kim loại kẽm ($Zn$). $Zn$ có tính khử mạnh hơn $Fe$ nên đóng vai trò là cực âm (anot) bị ăn mòn trước ($Zn \rightarrow Zn^{2+} + 2e$), qua đó bảo vệ phần thân tàu thép không bị phá hủy.

5. Lượng khí chlorine cần dùng mỗi ngày để xử lý nước cho thành phố Đà Nẵng được tính toán dựa trên dữ liệu nào trong bài tập 3?
Bài toán giả định dân số Đà Nẵng là 1 triệu người, mức tiêu thụ nước bình quân $100\text{ lít/người/ngày}$ (tổng thể tích $10^5\text{ m}^3\text{ nước}$) và định mức bơm $Cl_2$ khử trùng cuối quy trình là $5\text{ g/m}^3$. Khối lượng chlorine cần dùng được xác định là $10^5 \times 5 = 5 \times 10^5\text{ g} = 5.000\text{ kg } Cl_2/\text{ngày}$.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Kiều Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đánh giá năng lực khoa học theo tiếp cận PISA và xây dựng thành công 20 bài tập thực tiễn chuyên sâu cho hai chủ đề trọng tâm “Các nguyên tố nhóm VIIA” và “Đại cương về kim loại”. Kết quả khảo sát thực trạng và khảo nghiệm sư phạm tại các trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng chứng minh tính cấp thiết, khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập trong việc thúc đẩy tư duy giải quyết vấn đề thực tế của học sinh. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị ứng dụng cao đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Hóa học theo Chương trình GDPT 2018.