CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1. Tổng quan về PISA 1. Tìm hiểu chung về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 1. PISA là gì? PISA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Programme for International Student Assessment - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế" do Hiệp hội các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo.
PISA được thực hiện theo chu kỳ ba năm một lần (bắt đầu từ năm 2000). Mục tiêu của chương trình là cung cấp dữ liệu so sánh để giúp các quốc gia cải thiện chính sách và kết quả giáo dục của mình. Chương trình tập trung vào việc đo lường hiểu biết và khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của học sinh. Vào năm 2015, có 72 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia chương trình, với tổng số khoảng 540.000 học sinh tham gia.
Ngoài việc đánh giá kết quả học tập của học sinh, PISA cũng khảo sát các mối quan hệ giữa việc học và các yếu tố khác nhằm hiểu rõ sự khác biệt về kết quả giữa các quốc gia và trong từng quốc gia. Đặc điểm của PISA - Quy mô của PISA rất lớn và có tính toàn cầu. Qua 5 cuộc khảo sát đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có rất nhiều quốc gia là đối tác của khối OECD đăng ký tham gia – trong đó có Việt Nam. PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm/1 lần) tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản.
Cứ sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng giờ Paris, ngày 04 tháng 12, kết quả điều tra được công bố trên toàn thế giới. - Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về năng lực phổ thông của HS ở độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. Độ tuổi 15 ở hầu hết các nước thành viên OECD tương đương kết thúc lớp 9 của Việt Nam. - PISA đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các chính sách giáo dục, giúp định hướng và điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng giáo dục.
- Khác biệt với các kỳ thi truyền thống tập trung vào kiến thức sách vở, PISA đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tế. Học sinh được đánh giá qua các tình huống thực tế mà họ có thể gặp phải trong cuộc sống, qua đó thể hiện khả năng phân tích, giải thích và truyền đạt thông tin hiệu quả. 4 - Nhận thức rằng nhà trường không thể cung cấp đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho cuộc sống, PISA chú trọng đánh giá năng lực học tập suốt đời của học sinh. Khả năng tự học, tự nghiên cứu, ý thức học tập và phương pháp học tập hiệu quả là những yếu tố then chốt để các tôi thành công trong tương lai.
- PISA tập trung đánh giá ba lĩnh vực then chốt: Đọc hiểu, Toán học và Khoa học. Ngoài ra, kỳ thi còn khảo sát động cơ học tập, niềm tin vào bản thân và các chiến lược học tập của học sinh. Mục tiêu của PISA - Mục tiêu của PISA nhằm kiểm tra xtôi khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. - Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia.
Đây chính là điều mà PISA gọi là "năng lực phổ thông". Để làm được việc đó PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được ở tầm quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về trình độ đọc hiểu, toán học và khoa học của học sinh độ tuổi 15. Cấu trúc bài tập trong đề thi của PISA Năng lực phổ thông của PISA được đánh giá qua phần thi có thời gian 30 phút, gồm 1 chuỗi các bài tập (unit), mỗi bài tập bao gồm phần dẫn (common stimulus) kèm theo 1 bộ các câu hỏi/nhiệm vụ (ittôi) liên quan, mỗi câu hỏi/nhiệm vụ được mã hóa riêng lẻ. Việc cho điểm của các câu trong một bài tập là độc lập.
Mỗi bài tập gồm 4 phần: Phần dẫn; Phần câu hỏi; Các phương án trả lời; Mã hóa. Phần dẫn có thể trình bày dưới dạng chữ, bảng, biểu đồ, … nhằm thiết lập ngữ cảnh chung cho bộ các câu hỏi/ nhiệm vụ liên quan. Các ngữ cảnh được lựa chọn dựa trên mốiquan tâm và cuộc sống của HS, phải mang tính xác khảo, khuyến khích đề cập đến khái niệm, kiến thức, quy trình được đánh giá. Bối cảnh, câu hỏi, câu trả lời phải nằm trong khả năng của HS.
Ngôn ngữ dễ hiểu, trong sáng để HS có thể hiểu tài liệu và câu hỏi, nội dung phải đạt các yêu cầu sau: Gần gũi với HS ở các nước, thu hút được mối quan tâm của HS, có thể đánh giá được các khái niệm và phương pháp khoa học. Phần câu hỏi có các đặc điểm sau: Câu hỏi được lựa chọn phải mới, hay và có sức hấp dẫn với HS, cho phép đánh giá kiến thức về một khái niệm, quy trình trong một câu hỏi. Tất cả các phần trong câu hỏi phải liên quan đến cùng một khái niệm hoặc quy trình, phải liên quan đến bối cảnh. Câu hỏi phải rõ ràng, không mơ hồ, dẫn dắt để các câu trảlời của HS có thể rơi vào các câu trả lời tiêu chuẩn (đáp án).
Đối với đọc hiểu thì câu hỏi phải là một câu “hưởng ứng” văn bản. Các kiểu câu hỏi được sử dụng trong các bài tập: - Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kiểu đơn giản (Multiple choice). 5 - Câu hỏi Có - Không, Đúng - Sai phức hợp (Yes - No; True - False complex). - Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời (dựa trên những trả lời có sẵn) (Close -constructed response question).
- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (Short response question): Yêu cầu HS viết câu trả lời vào các dòng trống cho sẵn. - Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài (Open - constructed response question) (khi chấm sẽ phải tách ra từng phần để cho điểm): + Câu hỏi yêu cầu vẽ đồ thị, biểu đồ. + Câu hỏi liên quan đến việc HS phải đọc và trích rút thông tin từ biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ để trả lời câu hỏi. - Các phương án trả lời (đối với câu hỏi trắc nghiệm hoặc câu hỏi đúng – sai phứchợp) thõa mãn các yêu cầu sau: + Một câu trả lời đúng tốt hơn (đúng hơn) các phương án nhiễu.
+ Không để cho câu trả lời đúng là dài và phức tạp còn các phương án nhiễu thì ngắn và đơn giản hơn. + Các phương án nhiễu phải là những mệnh đề hợp lí nhưng không chính xác. + Các phương án nhiễu phải liên quan đến khoa học được đưa ra trong bối cảnh và không được vượt khỏi phạm vi kiến thức mà HS đã được học. Mã hóa: Hướng dẫn mã hóa phải đạt được các yêu cầu sau: Mã hóa khớp với mục đích câu hỏi (thêm vào những mô tả chung mà câu hỏi cóý định đánh giá).
Có một mô tả chính xác, rõ ràng cho mỗi loại mã hoá. PISA sử dụng thuật ngữ mã hóa (coding), không sử dụng khái niệm chấm bài vì mỗi một mã của câu trả lời được quy ra điểm số tùy theo câu hỏi. Các mã thể hiện mức độ trả lời bao gồm: Mức đạt được tối đa cho mỗi câu hỏi và được quy ước gọi là “Mức tối đa”, mức “Không đạt” mô tả các câu trả lời không được chấp nhận và bỏ trống không trả lời. Một số câu hỏi có thêm “Mức chưa tối đa” cho những câu trả lời thỏa mãn một phần nào đó.
Ưu điểm của bài tập PISA trong việc đánh giá năng lực học sinh - Trong các câu hỏi/bài tập của PISA xây dựng không kiểm tra kiến thức học được ở nhà trường mà đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề mới đối với HS, gắn liền với các tình huống cuộc sống. Do đó, sử dụng bài tập PISA trong đánh giá năng lực của HS phù hợp với định hướng dạy học tiếp cận năng lực. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6 1. Tình hình nghiên cứu về bài tập PISA trên thế giới Lịch sử phát triển Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) trên thế giới có những giai đoạn và tác động quan trọng như sau: (1).
Khởi nguồn và giai đoạn phát triển ban đầu (1990s - đầu những năm 2000) Trong những năm 1990, xuất phát từ nhu cầu đánh giá giáo dục quốc tế và so sánh khả năng học tập của học sinh giữa các quốc gia, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã bắt đầu phát triển PISA. Mục tiêu của chương trình là đánh giá năng lực học sinh 15 tuổi trong ba lĩnh vực chính là Đọc hiểu, Toán học và Khoa học. Vào năm 2000, kỳ thi PISA đầu tiên đã được tổ chức với sự tham gia của 32 quốc gia/vùng lãnh thổ, và kết quả thu hút sự chú ý toàn cầu, thúc đẩy nhiều quốc gia tham gia vào các kỳ thi PISA tiếp theo. Mở rộng và đa dạng hóa (giữa những năm 2000 - 2010s) Trong giai đoạn này, PISA đã tiến hành những mở rộng và đa dạng hóa trong nội dung và phạm vi đánh giá.
Năm 2003, PISA đã bổ sung thêm bài thi giải quyết vấn đề, để đánh giá khả năng ứng dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn. Năm 2009, PISA bắt đầu thực hiện đánh giá năng lực học sinh 15 tuổi theo chu kỳ ba năm (2009, 2012, 2015) trong ba lĩnh vực chính là Đọc hiểu, Toán học và Khoa học. Đồng thời, số lượng quốc gia/vùng lãnh thổ tham gia PISA cũng tăng lên 65, bao gồm cả các quốc gia đang phát triển. Nâng cao và đổi mới (2010s - nay) Trong giai đoạn này, PISA tiếp tục nâng cao chất lượng và đổi mới trong quy trình đánh giá.
Năm 2015, PISA lần đầu tiên đánh giá khả năng sáng tạo của học sinh. Năm 2018, PISA đã đổi mới định dạng bài thi, sử dụng máy tính để đánh giá khả năng đọc hiểu và toán học của học sinh. Tuy nhiên, kỳ thi PISA tiếp theo, dự kiến diễn ra vào năm 2021, đã bị hoãn do đại dịch COVID-19.