mở đầu bằng câu chuyện cười. ® Hiện tượng xả tin : tuân theo nguyên lý loại trừ. thông tin nhỏ nhưng giàu ý nghĩa bao giờ cũng dé lưu trữ hơn thông tin lớn nhưng ít ý nghĩa. Có 2 loại : xả tin chủ đông và xả tin tiêu cực , Xả tin chủ động diễn ra trong quá trình SVTH © NGUYEN THỊ THUY LAN Trang8 - ôn tập.
hệ thống hóa kiến thức _Xả tin tiêu cực diễn ra do quá trình lơ là trong học tập của học sinh. , , Quá trình dạy học đòi hỏi phải luôn được quản lý và tự quản lý nhằm tạo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đường liên hệ xuôi với các đường liên hệ ngược bên ngoài và bên trong làm cho quá trình dạy học trở thành một chương trình kín ty ian r LHWNW 'Q_1#—————MAc đích - nhiệm vụ s Liên hệ xuôi ( LHX ) : Liên hệ từ phía giáo viên thông qua bài giảng tác động đến học sinh — thể hiện sự điểu khiển của giáo viên đối với học sinh. s Liên hệ ngược ngoài(LHNN) : Học sinh tiếp cận kiến thức từ phía giáo viên thông qua các quá trình tự kiểm tra , thảo luận tập thể , kiểm tra báo cáo kết quả cho giáo viên. Từ đó , giáo xiên kiểm tra lại cách dạy và sẽ trưởng thành thêm một bước.
¢ Liên hệ ngược trong ( LHNT ) : học sinh thông qua các quá trình tự kiểm tra , thảo luận tập thể , kiểm tra để tự kiểm trả lại cách học của mình —» diéu chỉnh lại cách học của mình để có hiệu quả tốt nhất. SVTH - NGUYEN THỊ THEY LAN Trang 9 - Luận tân tốt nghiệp GVHD: Cô TRAN THI VAN BP. CAC DINONE PUAD DAY HOC HOA HOC? 1 / Dinh nghĩa : - Phương pháp day học : là cá th: thức, con đường hoạt động của giáo viên và học sinh dưới sự chỉ đáo của giáo viên nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức. kỹ năng , kỹ xảo , phát triển năng lực nhận thức , hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan công sản chủ nghĩa.
- Phương pháp dạy học Hóa học : là cách thức hoạt động công tác có mục dich giữa giáo viên và học sinh , trong đó thống nhất sự diéu khiển của giáo viên với sự bị điều khiển , tự điều khiển của học sinh , nhằm làm cho học sinh chiếm lĩnh khái niệm Hóa học. HH / Đặc trưng riêng của phương pháp day học Hóa học : La phương pháp học tập có lập luận trên cơ sở thí nghiệm - trực quan, kết hợp thông nhất phương pháp thực nghiệm - thực hành với tư duy khái niệm e Ở các lớp đưới, khi bắt đầu học Hóa. việc day học phải xuất phát tìtừ trực quan sinh động , từ đó đi tới hình thành các khái niệm trừu tượng của Hóa học. Càng lên lớp trên , khi vốn khái niệm đã phong phú hơn , cần rèn luyện cho học sinh sử dung khái niệm như công cụ của tư duy.
e Định luật tổng quát về mối liên hệ giữa cấu tạo và tính chất của chất phái được sử dụng như một phương pháp day học cơ bắn trong môn Hóa. Đối tượng của Hóa học là chất cấu tạo bởi phân tử , nguyên tử , ion , hạt nhân nguyên tử. là những phan tử vi mô , không quan sát được bằng mat thường. Chúng tương ứng với các khái niệm trừu tượng cần được học sinh lĩnh hội vững chắc.
Những cơ chế hóa học điễn ra theo qui luật là sự phá vỡ những phân tử của các chất ban đấu để tập hợp lại thành những phân tử của các chất được tạo thành. Những dién biến nay cũng đều ở kích thước vi mô , nhưng lại là những kiến thức cơ bản cần truyền đạt cho học sinh. = chúng ta buộc phải đùng mô hình cụ thể ở kích thước vĩ mô để diễn tả cấu tạo phân tử các chất và cơ chế của ¿ác phản ứng hóa học , dựa trên những biểu hiện bên ngoài của chúng để giúp học sinh suy ra bằng tư duy về tính chất các chất , rồi từ đó cũng bằng tư đuy thám nhập vào cấu tạo phân tử của chúng. Học theo cách này đòi hỏi ở học sinh một trình độ phát triển nhất định của tư duy trừu tượng , kỹ nang nhất định trong sử dụng mô hình , phương pháp mô hình hóa ( các công thức hóa học thuộc loại mô hình ).
Nó là một khó khăn lớn trong việc dạy học Hóa học. Cho nên Hóa học không thể bắt đầu dạy sớm như nhiều môn khoa học tự nhiên khác - Vậy phương pháp Hóa học chính là sự chuyển hóa của phương pháp dạy môn Hoa thông qua lăng kính của các qui luật tâm lý — lý luận day học của sự lĩnh hỏi của học sinh. Và học tập môn Hóa ở trường trung học phải bằng hệ thống phương pháp kết hợp biện chứng thí nghiệm ~ thực hành với tư duy lý luận , vận dụng mô hình , học thuyết và định luật chủ đạo. SUTH : NGUYEN THỊ THEY LAN Trang 10- Luận van tốt nghiệp - GVHĐ: Cô TRAN THỊ VAN Ngoài ra , thí nghiệm Hóa học là tối cần thiết cho việc dạy học Hóa học.
Chỉ có trên cơ sở đó , học sinh mới thu thập được muôn van dấu hiệu của phan ứng hóa học mà không có qui tắc , nguyên tấc, lý thuyết nào thay thế được. Vấn để này phụ thuộc vào trách nhiệm của cơ quan quản lý và đầu tư cho giáo dục và trường học ; của các cơ sở đào tạo giáo viên Hoá học , của chính giáo viên đứng lớp , HI / Hệ thống các phương pháp đạy học Hóa học cơ bản : |. Phương pháp trực quan ( phương pháp biểu diễn của giáo viên ) : a > Các phương tiện trực quan : Gém ; e Tất cả những cái gì có thé được lĩnh hội ( tri giác ) nhờ su hỗ trợ của các hé thong tín hiệu : thí nghiệm Hóa học,. e Các đối tượng nghiên cứu được tri giác một cách trực tiếp nhỡ các giác quan.
Ví dụ : axit có vị chua , e Các hình vẽ , tranh ảnh. Ta sử dụng các phương tiện trực quan sau © © Đối tượng và quá trình: mẫu các chất, dụng cụ máy móc, thiết bị , các quá trình Vật lý và Hóa học ( thí nghiệm Hóa học ). e Đồ dùng trực quan tạo hình : tranh ảnh, hình vẽ. đèn chiếu, phim giáo khoa, hình mẫu các máy móc , thiết bị , mô hình , ® Tài liệu trực quan tượng trưng ( ký hiệu hóa ) : biểu đổ , sơ đổ , đồ thi,.
Học sinh quan sắt các đối tượng và quá trình với mục đích học tập không những chi trong các giờ học ở trường mà còn ở ngoài trường như khi tham quan. khi lao động học tap,. b> Biểu diễn các thí nghiệm Héa học : s Thí nghiệm biểu diễn có các +u điểm : - Giúp học sinh dé hiểu bài và hiểu bài sâu sắc, nhớ bài lâu hơn, giúp nâng cao hứng thú học tập môn Hóa. nâng cao› lòng tin của học sinh vào khoa học, phát triển tư duy của học sinh, - Thi nghiệm do giáo viên biểu diễn , thao tác rất mẫu mực nên có tác dụng hình thành những kỹ năng thí nghiệm đầu tiên cho học sinh một cách chính xác.
- Có những thí nghiệm không nên để học sinh làm mà giáo viên cần trực tiếp hiểu diễn , Đó là những thí nghiệm phức tạp hoặc có dùng chất độc , chất nổ ; những thí nghiệm đòi hỏi phải dùng một lượng lớn hóa chất mới có kết quả đáng tin cay. - Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn tốn ít thời gian hơn , đòi hỏi it dụng cu, hóa chất hon. ¢ Những yêu cầu sư phạm về Kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm : - Phải đảm bảo an toàn cho học sinh , Giáo viên phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật về moi sự không may xảy ra. Nếu thí SVTH : NGUYEN THỊ THUY LAN Trang 11 - Luận van tốt nghiệp GVHD: Co TRAN THỊ VAN nghiệm làm giáo viên va học sinh bị thương , học sinh sẽ hoảng hốt sợ hãi , gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả và hứng thú học tập của học sinh.
Vì thé , giáo viên phải kiểm tra lại dụng cụ. trước khi làm thí nghiệm và tuân theo tất cả những qui định về bảo hiểm. Sự nắm vững kỹ thuật và kỹ năng thành thạo khi làm thí nghiệm. sự am hiểu nguyên nhân của những không may có thể xảy ra , ý thức trách nhiệm và tính cẩn thận là những điều kiện chủ yéu để dam bảo an toàn cho các thí nghiệm Hóa học.
- Mặt khác không nên quá cường điệu những nguy hiểm của các thí nghiệm và tính độc của các hóa chất làm học sinh sợ hãi. Cũng không nên vì để đảm bảo an toàn cho học sinh và giáo viên mà han chế sử dụng các thí nghiệm Hóa học trong giảng day. - Thí nghiêm biểu diễn phái thành công nếu không uy tín của giáo viên sé bị ha thấp. học sinh sẽ không tin vào giáo viên , vào khoa học.
- Muốn đảm bảo kết quả tốt khi làm thí nghiệm, giáo viên phải : + Nắm vững kỹ thuật thí nghiệm. tuân theo các chỉ dẫn về kỹ thuật khi lấp dung cụ và khi tiến hành thí nghiệm. Ví dụ : Đốt hỗn hợp nổ CH, + O; : không được đốt trực tiếp mà phải cho hon hợp qua nước rồi mới đốt. š + Có kỹ năng thành thạo , Muốn vậy giáo viên phải rèn luyện kỹ năng , tích luỹ kinh nghiệm , phải mất thì giờ , công sức và cố gắng sáng tạo trong quá trình chuẩn bị.
+ Chuẩn bị cẩn than thí nghiệm , thử nhiều lẫn trước khi biểu diễn ở lớp + Lương hóa chất , nống đô các dung dịch và nhiệt độ tiến hành thí nghiệm phải thích hợp. + Nên chuẩn bị sẩn những bộ phận dự trữ để thay thế nếu những bộ phận ấy bị hỏng ( gẫy. ) trong khi đang tiến hành thí nghiệm ở lớp. Những sơ suất nhỏ về lựa chọn dụng cụ hay thiếu dụng cụ đều để lại ấn tượng xấu trong học sinh.
- Khi thí nghiệm thất bại , giáo viên cần bình nh tìm nguyên nhân và giải quyết .