Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học hóa học lớp 10 cơ bản" được Huỳnh Thị Mỹ Nhung thực hiện năm 2014 tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trịnh Lê Hồng Phương và PGS.TS. Trịnh Văn Biểu. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học.
Về lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng nền giáo dục Việt Nam đang từng bước chuyển từ việc thuần túy trang bị kiến thức, kỹ năng sang hình thành năng lực, phẩm chất của người học nhằm đáp ứng yêu cầu của "xã hội học tập" trong thế kỷ XXI. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được thể chế hóa tại Điều 28.2 Luật Giáo dục năm 2005: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". Thực tế giảng dạy cho thấy các phương pháp tích cực như dạy học dự án, hợp tác nhóm, E-learning hay trò chơi học tập đã bước đầu được nghiên cứu. Tuy nhiên, phương pháp đóng vai – một công cụ giảng dạy giúp lồng ghép kiến thức khoa học vào các tình huống thực tiễn và bài học xã hội – hầu như chỉ được nghiên cứu, áp dụng ở bậc Mầm non, Tiểu học, Đại học hoặc trong các môn khoa học xã hội như Giáo dục công dân, Đạo đức, Tâm lý học, Ngữ văn. Ở bậc Trung học phổ thông (THPT), đặc biệt là với các môn khoa học tự nhiên như Hóa học, phương pháp này chưa được sử dụng phổ biến do môn học thường bị học sinh cảm nhận là khô khan, nặng về lý thuyết và tính toán.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu và vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Hóa học lớp 10 cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo và niềm đam mê hóa học cho học sinh. Tác giả xác định cụ thể 5 nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số trong văn bản:
- Nghiên cứu hệ thống lý luận về phương pháp dạy học và phương pháp đóng vai làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài.
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học và phương pháp đóng vai trong dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Thiết kế một số giáo án có vận dụng phương pháp đóng vai trong chương trình Hóa học lớp 10 cơ bản.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các giáo án đã thiết kế.
- Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm sư phạm để vận dụng vào thực tế giảng dạy.
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là việc sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Hóa học lớp 10 cơ bản.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về nội dung: Chương trình Hóa học lớp 10 cơ bản ban hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Về không gian: Một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh (THPT An Lạc, quận Bình Tân) và tỉnh Đồng Nai (THPT Đoàn Kết và THPT Thanh Bình, huyện Tân Phú).
- Về thời gian: Đề tài được triển khai thu thập dữ liệu và thực nghiệm từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2014.
Giả thuyết khoa học của khóa luận khẳng định: Nếu vận dụng phương pháp đóng vai một cách có tính khoa học và sáng tạo thì sẽ khơi gợi lòng yêu thích môn học, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở trường THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên sự tổng hợp các quan điểm giáo dục học và tâm lý học dạy học hiện đại:
- Khái niệm quá trình dạy học (QTDH) theo Phan Trọng Ngọ: là chuỗi hành động đan xen và tương tác giữa người dạy và người học nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học, trong đó người học tương tác với nội dung học tập ở vị trí trung tâm theo thuyết kiến tạo.
- Bốn vai trò của giáo viên trong dạy học tích cực gồm: người cổ vũ, người tổ chức, người thiết kế và người đánh giá.
- Định nghĩa phương pháp dạy học (PPDH) từ các công trình của Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt, Trần Bá Hoành và Phạm Viết Vượng, khẳng định PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên nhằm hoàn thành mục tiêu giáo dục.
- Khái niệm và bản chất của tính tích cực nhận thức được tiếp cận qua các nghiên cứu của Hà Thế Ngữ, B. P. Êxipôp và I. F. Kharlamop, xem tính tích cực là trạng thái hoạt động đặc trưng bởi khát vọng học tập, huy động trí tuệ và nghị lực để làm chủ tri thức. Các biểu hiện cụ thể của tính tích cực bao gồm: sự hăng hái, sự chuyên cần, sự quyết tâm, tính tự giác, sự chú ý say mê và kết quả học tập.
- Lý luận về phương pháp đóng vai: Được định nghĩa là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành "làm thử" một số cách ứng xử trong một tình huống giả định trước tập thể lớp hoặc nhóm học tập. Tác giả nhấn mạnh việc diễn xuất không phải là mục tiêu chính mà điều quan trọng nhất là hoạt động thảo luận diễn ra sau phần diễn xuất.
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu: Khóa luận lược khảo các công trình trong nước về phương pháp đóng vai như khóa luận của Nguyễn Thùy Thu Loan (2005), Nguyễn Thị Khánh Chi (2007 - nghiên cứu nhóm nhỏ và đóng vai trong Hóa học 10 nâng cao), Đinh Thị Phương Thảo (2009); luận văn thạc sĩ của Trương Kim Thuyên (2009), Đào Thị Hường (2011); luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Oanh (1998); cùng các bài báo khoa học của PGS.TS. Huỳnh Văn Sơn (2011), tài liệu dịch của Kanokwan Manorom và Zoé Pollock (2011), và nghiên cứu của Elaine V. Cruz trên Journal of Elementary Science Education.
Tác giả đã phối hợp ba nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, thu thập, phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu lý luận dạy học, văn bản pháp quy giáo dục và sách giáo khoa.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi: Lập phiếu điều tra thực trạng gửi tới 524 học sinh và 30 giáo viên tại 3 trường THPT ở TP.HCM và Đồng Nai.
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên bộ môn, sinh viên sư phạm và học sinh THPT để thu thập dữ liệu định tính.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy thực nghiệm tại các lớp 10 với hệ thống giáo án đã thiết kế, tổ chức kiểm tra đánh giá song song giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Nhóm phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức thống kê toán học trong nghiên cứu giáo dục để xử lý số liệu điều tra và thực nghiệm (tính điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, kiểm định giả thuyết thống kê t-Student và vẽ đồ thị đường lũy tích).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 tập trung phân tích hệ thống khái niệm nền tảng về đổi mới phương pháp dạy học, lý luận về phương pháp đóng vai và công bố số liệu điều tra thực trạng tại các trường THPT.
Về quy trình thực hiện phương pháp đóng vai trong điều kiện tiết học 45 phút, tác giả chỉ ra rằng nếu tiến hành đủ các bước thông thường (giao tình huống, thảo luận, diễn thử, biểu diễn, phỏng vấn/thảo luận, kiểm tra) thì thời gian một tiết học không thể đáp ứng. Do đó, tác giả đề xuất điều chỉnh quy trình: giáo viên giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh lập nhóm, chuẩn bị kịch bản từ cuối tiết học trước; tiết học trên lớp chỉ dành thời gian cho việc thể hiện tình huống (không quá 2 tình huống/tiết) và tập trung thời lượng cho khâu học sinh thảo luận, nhận xét để chốt kiến thức.
Về khảo sát thực trạng, tác giả đã tiến hành điều tra trên 524 học sinh và 30 giáo viên tại 3 trường THPT: THPT An Lạc (TP.HCM), THPT Đoàn Kết (Đồng Nai) và THPT Thanh Bình (Đồng Nai). Kết quả điều tra thực trạng phản ánh sự chênh lệch lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn triển khai:
| Nội dung khảo sát đối với học sinh (N = 524) |
Tỷ lệ phản hồi (%) |
| Mức độ yêu thích môn Hóa học: Cảm thấy "Bình thường" |
59,73% |
| Mức độ tiếp xúc với phương pháp đóng vai trong môn Hóa học |
Đa số chưa từng tiếp xúc (chỉ gặp ở môn Ngữ văn, GDCD) |
| Cảm nhận khi nhận vai diễn: Áp lực khi đứng trước lớp trình bày |
Chiếm đa số ý kiến học sinh |
| Mức độ hào hứng nếu hoạt động đóng vai được tổ chức trên lớp |
Tỷ lệ mong muốn tham gia ở mức cao |
| Phương pháp dạy học |
Tần suất sử dụng của giáo viên (Thang điểm 0 - 4) |
| Phương pháp đàm thoại, trực quan, thuyết trình |
Thường xuyên sử dụng |
| Phương pháp hoạt động nhóm, trò chơi học tập |
Ít sử dụng |
| Phương pháp đóng vai |
0,07 (Mức thấp nhất trong các PPDH) |
Khảo sát 30 giáo viên cho thấy nguyên nhân phương pháp đóng vai ít hoặc không được sử dụng xuất phát từ: nội dung môn học phức tạp; học sinh còn nhút nhát, thụ động; áp lực về mặt thời gian của tiết học 45 phút; và thiếu tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp (điển hình tại trường THPT An Lạc). Mặc dù vậy, giáo viên đánh giá rất cao ý nghĩa của phương pháp đóng vai: giúp học sinh bạo dạn trước đám đông, liên hệ kiến thức lý luận với thực tiễn cuộc sống (điểm đánh giá 3,53/4), và phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh (3,37/4). Đáng chú ý, có 56,67% giáo viên được hỏi cho biết có dự định sẽ áp dụng phương pháp đóng vai vào công tác giảng dạy sau khi được phân tích rõ về tác dụng sư phạm.
Chương 2. Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Hóa học lớp 10 cơ bản
Chương 2 trình bày tổng quan cấu trúc chương trình Hóa học lớp 10 cơ bản, xác định các nguyên tắc, quy trình sư phạm và thiết kế hệ thống giáo án thực nghiệm.
Chương trình Hóa học 10 cơ bản gồm 7 chương:
- Chương 1: Nguyên tử
- Chương 2: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn
- Chương 3: Liên kết hóa học
- Chương 4: Phản ứng oxi hóa - khử
- Chương 5: Nhóm Halogen
- Chương 6: Oxi - Lưu huỳnh
- Chương 7: Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học
Tác giả phân tích cụ thể mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ của từng chương, từ đó xác định các địa chỉ bài học phù hợp để đưa phương pháp đóng vai vào giảng dạy. Tác giả đề xuất các dạng vai diễn từ mức độ quen thuộc (người bán hàng - người mua hàng, giáo viên - học sinh, bác nông dân) đến các vai có tính chuyên môn xã hội (nhà bảo vệ môi trường, kỹ sư nhà máy xử lý nước cấp) và các vai trừu tượng (học sinh hóa thân thành các nguyên tử, nguyên tố hóa học hoặc hạt vi mô).
Khóa luận xây dựng hệ thống giáo án mẫu theo 4 dạng bài học điển hình trong nhà trường phổ thông:
- Giáo án bài hình thành kiến thức mới (ví dụ: bài Cân bằng hóa học với mô hình chuyển dịch cân bằng theo nguyên lý "thùng nước mắm", bài Hidrosunfua).
- Giáo án bài luyện tập, ôn tập kiến thức chương.
- Giáo án bài thực hành thí nghiệm hóa học.
- Giáo án hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dung hóa học (nhằm tháo gỡ khó khăn về giới hạn thời gian 45 phút trên lớp chính khóa).
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày kế hoạch tổ chức, kết quả xử lý số liệu định lượng và định tính của quá trình thực nghiệm sư phạm.
Thực nghiệm được tiến hành song song giữa các cặp lớp Thực nghiệm (TN - có sử dụng phương pháp đóng vai) và Đối chứng (ĐC - sử dụng phương pháp dạy học truyền thống) tại các trường THPT thuộc địa bàn nghiên cứu:
- Thiết kế thực nghiệm kiểm tra bài "Hidrosunfua": Triển khai trên 5 cặp lớp gồm ĐC1 - TN1, ĐC2 - TN2, ĐC3 - TN3, ĐC4 - TN4, ĐC5 - TN5.
- Thiết kế thực nghiệm kiểm tra bài "Cân bằng hóa học": Triển khai trên các cặp lớp ĐC1 - TN1, ĐC2 - TN2.
Dữ liệu kiểm tra sau bài học được tổng hợp thành bảng phân phối điểm số, tính toán các tham số thống kê đặc trưng và vẽ đồ thị đường lũy tích (Hình 3.1 đến Hình 3.7 trong văn bản). Các đường lũy tích của lớp thực nghiệm đều nằm lệch về phía bên phải so với lớp đối chứng, phản ánh tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng.
Đánh giá định tính thông qua bảng khảo sát học sinh sau thực nghiệm xác nhận phương pháp đóng vai giúp tăng cường hứng thú học tập, cải thiện khả năng ghi nhớ kiến thức lý thuyết thông qua tình huống kịch bản, và rèn luyện kỹ năng diễn đạt, giao tiếp trước tập thể. Tác giả cũng đúc kết các bài học kinh nghiệm về quản lý thời gian, cách thức định hướng kịch bản mở (không gò bó học thoại thuộc lòng) và kỹ thuật điều phối thảo luận sau vai diễn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu thực tế được ghi nhận trong văn bản:
| Hạng mục dữ liệu |
Kết quả ghi nhận trong khóa luận |
| Quy mô khảo sát thực trạng |
524 học sinh và 30 giáo viên tại 3 trường THPT thuộc TP.HCM và Đồng Nai |
| Thực trạng sử dụng PP đóng vai |
Điểm trung bình mức độ sử dụng của GV đạt 0,07/4 (thấp nhất trong các PPDH) |
| Thái độ của học sinh với môn học |
59,73% học sinh cảm thấy môn Hóa học ở mức "bình thường" |
| Kỳ vọng ứng dụng của giáo viên |
56,67% giáo viên dự định sẽ sử dụng PP đóng vai sau khảo sát |
| Quy mô thực nghiệm sư phạm |
5 cặp lớp TN - ĐC cho bài Hidrosunfua; các cặp lớp TN - ĐC cho bài Cân bằng hóa học |
| Kết quả kiểm định thực nghiệm |
Điểm trung bình các lớp TN cao hơn ĐC; đồ thị lũy tích lớp TN nằm về bên phải lớp ĐC |
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Giải pháp tổ chức: Phải chia nhỏ quy trình, chuyển khâu chuẩn bị nội dung và phân công vai diễn về cuối tiết học trước hoặc lồng ghép vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp; tình huống đóng vai cần để mở, không ép buộc học sinh học thuộc kịch bản định sẵn để kích thích tư duy giải quyết vấn đề.
- Đối với giáo viên: Cần linh hoạt kết hợp phương pháp đóng vai với các phương pháp dạy học tích cực khác (đàm thoại Ơrixtic, dạy học giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm); chuẩn bị hệ thống câu hỏi phỏng vấn định hướng sâu sắc sau phần diễn.
- Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần tạo điều kiện về quỹ thời gian cho hoạt động ngoại khóa hóa học, trang bị thêm phương tiện dạy học và tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tích cực cho giáo viên THPT.
Về đóng góp mới, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học gắn với đặc thù bộ môn Hóa học; chứng minh tính khả thi của phương pháp đóng vai đối với môn khoa học tự nhiên ở bậc THPT; và xây dựng được bộ giáo án minh họa chi tiết theo 4 dạng bài học cụ thể trong chương trình Hóa học 10 cơ bản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản khóa luận ghi nhận một số giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về thời gian và năng lực: Đề tài được hoàn thành trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên sư phạm (thời gian thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2014) nên phạm vi thực nghiệm chỉ giới hạn ở 3 trường THPT trên địa bàn TP.HCM và Đồng Nai.
- Hạn chế về thời lượng tiết học: Thời lượng 45 phút chuẩn của tiết học phổ thông gây áp lực lớn cho việc tổ chức đóng vai hoàn chỉnh trên lớp, đòi hỏi học sinh phải tự giác chuẩn bị trước ở nhà.
- Giới hạn về nội dung chương trình: Đề tài mới dừng lại ở phạm vi chương trình Hóa học lớp 10 ban cơ bản, chưa mở rộng sang chương trình nâng cao hoặc các khối lớp 11 và 12.
Hướng mở nghiên cứu tiếp được tác giả chỉ ra bao gồm việc mở rộng thiết kế các tình huống đóng vai cho các chủ đề hóa học hữu cơ và vô cơ phức tạp hơn ở lớp 11 và 12; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế đánh giá định lượng năng lực sáng tạo của học sinh khi tự xây dựng kịch bản tình huống mở.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Hóa học và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học: Tham khảo khung lý luận, phương pháp khảo sát thực trạng và quy trình thiết kế thực nghiệm sư phạm bằng công cụ thống kê toán học.
- Giáo viên Hóa học tại các trường THPT: Tham khảo trực tiếp quy trình khắc phục rào cản thời gian 45 phút khi tổ chức hoạt động sắm vai, cùng hệ thống giáo án mẫu chi tiết của 4 dạng bài (hình thành kiến thức mới, luyện tập, thực hành và hoạt động ngoài giờ lên lớp) trong chương trình Hóa học 10.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Hệ thống các bảng số liệu điều tra thực trạng giáo viên và học sinh ở Chương 1; các kịch bản tình huống sư phạm (như mô hình chuyển dịch cân bằng theo nguyên lý "thùng nước mắm" ở Chương 2); và các bài học kinh nghiệm sư phạm thực tế khi quản lý lớp học đóng vai ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành trên những đối tượng nào và ở đâu?
Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 524 học sinh và 30 giáo viên tại 3 trường THPT gồm: Trường THPT An Lạc (quận Bình Tân, TP.HCM), Trường THPT Đoàn Kết (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) và Trường THPT Thanh Bình (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
2. Điểm đánh giá mức độ sử dụng phương pháp đóng vai của giáo viên trong thực tế là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra 30 giáo viên THPT, phương pháp đóng vai có điểm trung bình sử dụng thấp nhất trong tất cả các phương pháp dạy học được khảo sát, chỉ đạt 0,07 trên thang điểm từ 0 đến 4, dù có những giáo viên tham gia khảo sát có thâm niên công tác lên tới 27 năm.
3. Vì sao phương pháp đóng vai khó triển khai trọn vẹn trong một tiết học 45 phút và tác giả đưa ra giải pháp gì?
Thời lượng 45 phút không đủ để học sinh vừa nhận tình huống, lập nhóm, thảo luận kịch bản, diễn thử và biểu diễn trên lớp. Tác giả giải quyết bằng cách giao nhiệm vụ, phân vai và hướng dẫn học sinh chuẩn bị từ cuối tiết học trước; tiết dạy trên lớp chỉ dành tối đa cho 1 đến 2 tình huống diễn ngắn, tập trung phần lớn thời gian cho học sinh cả lớp thảo luận và giáo viên kết luận kiến thức.
4. Khóa luận đã thiết kế giáo án có sử dụng phương pháp đóng vai cho những dạng bài nào trong chương trình Hóa học 10 cơ bản?
Tác giả đã thiết kế hệ thống giáo án cho 4 dạng bài: Bài hình thành kiến thức mới (trang 52); Bài luyện tập (trang 71); Bài thực hành (trang 76); và Giáo án hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dung hóa học (trang 81).
5. Thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai trên những bài học cụ thể nào và sử dụng công cụ đo lường gì?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành với bài "Hidrosunfua" (trên 5 cặp lớp TN và ĐC) và bài "Cân bằng hóa học" (trên các cặp lớp TN và ĐC). Công cụ đo lường và đánh giá bao gồm bài kiểm tra kiến thức, lập bảng phân phối tần số/tần suất, tính các tham số thống kê đặc trưng (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên) và vẽ đồ thị đường lũy tích điểm số.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Mỹ Nhung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Hóa học tại các trường THPT ở TP.HCM và Đồng Nai năm học 2013 - 2014. Tác giả đã cụ thể hóa việc đổi mới phương pháp bằng việc thiết kế hệ thống giáo án mẫu theo 4 dạng bài học thuộc chương trình Hóa học lớp 10 cơ bản, đề xuất giải pháp vượt qua giới hạn thời lượng tiết học 45 phút. Kết quả thực nghiệm sư phạm qua bài Hidrosunfua và Cân bằng hóa học đã kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp đóng vai trong việc nâng cao kết quả học tập và tạo hứng thú nhận thức cho học sinh phổ thông.