CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu phát triển năng lực cho học sinh là một trong các nghiên cứu giáo dục rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Đặc biệt, ở Việt Nam những năm gần đây, với mục tiêu chuyển từ định hướng nội dung sang định hướng phát triển năng lực thì vấn đề này lại càng nhận được sự quan tâm hơn bao giờ hết. Một số chủ đề mà các nghiên cứu tập trung như sau: + Nghiên cứu cấu trúc năng lực, phương pháp đánh giá năng lực.
+ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực. + Nghiên cứu đánh giá, dạy học phát triển năng lực cụ thể cho học sinh như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực làm việc nhóm. Về vấn đề nghiên cứu phương pháp dạy học – kiểm tra đánh giá phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên. Đối với nghiên cứu đánh giá thông qua bài tập giúp học sinh phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên, có một số nghiên cứu sử dụng khung năng lực của PISA để đi sâu xây dựng hệ thống bài tập đánh giá năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên của học sinh.
Nguyễn Thị Việt Nga có sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để phân tích khung năng lực của PISA từ đó đưa ra biểu hiện và đề xuất phương án giúp hình thành năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học cho học sinh (Nguyễn Thị Việt Nga, 2015). Nghiên cứu này mới chỉ dừng ở lý thuyết chưa xây dựng được các bài học cụ thể cũng như chưa thực nghiệm được để chứng minh tính hiệu quả của đề xuất. Về vấn đề phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh (Nguyễn Thị Phương Lan, 2019), nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên dưới góc độ vật lý cho học sinh. Tuy nhiên, đề tài chưa nhắc tới các phương pháp KTĐG để đánh giá năng lực.
Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy vai trò quan trọng của hoạt động giáo dục trong việc hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên của học sinh. Thông qua hoạt động giáo dục, học sinh có thể năng cao khả năng tự nhận thức, sự yêu thích khoa học từ đó phát triển năng lực và hướng nghiệp một cách tự nhiên. Chính vì vậy, nghiên cứu các phương pháp dạy học phát triển năng lực cũng là một trong các hướng nghiên cứu phổ biến. Tiếp cận với công bố dự thảo chương trình khoa học của Bộ Giáo dục năm 2018, Nguyễn Thị Diễm Hằng và công sự (2018) thực hiện nghiên cứu thực trạng hiểu biết năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học của giáo viên THCS.
Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo chương trình môn khoa học tự nhiên và nhóm tác giả sử dụng 5 dụng Phương pháp khảo sát, phân tích dữ liệu đề xuất các năng lực thành phần của năng lực KH gồm: năng lực nhận thức kiến thức khoa học tự nhiên; năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học tự nhiên; năng lực phát hiện và sử dụng kiến thức khoa học tự nhiên để giải quyết các tình huống trong thực tiễn; năng lực thực hành thí nghiệm và vận dụng trong cuộc sống; năng lực thu thập, xử lý, phân tích, sử dụng dữ liệu và thông tin thực nghiệm (số liệu thực nghiệm); năng lực công bố kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao. Các năng lực giải quyết tình huống, thực hành thí nghiệm, thu thập và xử lý thông tin đều là các biểu hiện của năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Ở nước ta, chương trình phổ thông hiện hành được ban hành theo Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT và được áp dụng tại các nhà trường phổ thông cho đến hiện nay. Tháng 11 năm 2012 đề án đổi mới về PPDH và KTĐG, xây dựng trường phổ thông đổi mới giai đoạn 2012-2015 được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành [13].
Mục tiêu của đề án nhằm đổi mới đồng bộ tất cả các hoạt động dạy-học trong trường phổ thông, đẩy mạnh việc áp dụng các PPDH mới như DH giải quyết vấn đề. PP thực hành, đổi mới PP KTĐG, tổ chức DH phân hóa theo NL của HS, cân đối giữa truyền thụ kiến thức với rèn luyện kĩ năng, định hướng thái độ. Tháng 6 năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn hướng dẫn 791/HD-BGDĐT về thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển NL của HS [14]. Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết số 29-NQ/TW- Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được ban hành [2].
Trong đó đặt ra yêu cầu đổi mới DH theo định hướng phát triển NL của HS. Tháng 6 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tài liệu [9] hướng dẫn thực hiện đổi mới về PPDH, hướng dẫn đổi mới hoạt động KTĐG, tài liệu cũng đã mô tả chi tiết về các phẩm chất và NL cần hình thành, phát triển cho HS. Các NL chung cần hình thành cho HS được xác định gồm: NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL tự quản lý, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, NL sử dụng ngôn ngữ, NL tính toán. Bên cạnh đó mỗi môn học cần hình thành và phát triển các NL “chuyên biệt”.
Với môn Hóa học, NL “chuyên biệt” gồm: NL sử dụng ngôn ngữ hóa học, NL thực hành hóa học, NL phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học, NL tính toán, NL vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống [9]. Theo tinh thần đó, dù cho đến thời điểm hiện tại, việc dạy và học vẫn đang thực hiện trên nền tảng Chương trình phổ thông 2006 nhưng ngay từ khi có định hướng đổi mới, tại các nhà trường phổ thông đã có những bước chuyển biến rõ rệt về PPDH cũng như công tác KTĐG nhằm phát triển NL cho HS. Cũng chính vì vậy đã có rất nhiều các 6 đề tài nghiên cứu việc hình thành và phát triển NL cho HS. Ở môn Hóa học, các đề tài nghiên cứu phát triển NL chung, NL đặc thù thông qua DH các chủ đề môn Hóa học như: phát triển NL giải quyết vấn đề, phát triển NL hợp tác, phát triển NL sử dụng ngôn ngữ hóa học, phát triển NL thực nghiệm,.thông qua các chủ đề DH đã được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu.
Tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [7] và Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học [6] cùng các môn học khác, trong đó đã xác định những phẩm chất và NL cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS trong giai đoạn này bao gồm: Ba NL chung (NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các NL đặc thù (NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất). Với môn Hóa học, NL đặc thù cần hình thành là NL hóa học (gồm NL nhận thức hóa học, NLTHTGTN dưới góc độ hóa học, NL vận dụng kiến thức kĩ năng đã học). Tuy việc triển khai giảng dạy và học tập bộ môn Hóa học theo chương trình phổ thông mới chưa áp dụng vào đại trà, nhưng việc tiếp cận, đón bắt hướng đổi mới trong dạy và học là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay. Các Module, khóa tập huấn về chương trình phổ thông mới và chương trình môn Hóa học đang được triển khai tới các nhà trường và từng GV môn Hóa học.
Theo [7], ở Trung học cơ sở, Hóa học được tích hợp cùng với các môn Vật lý, Sinh học. Ba môn học này hình thành và phát triển NL khoa học tự nhiên (NLKHTN) cho HS. Tuy là giai đoạn giao thời nhưng để bắt kịp với những yêu cầu về phẩm chất và NL cần hình thành cho HS theo chương trình phổ thông mới, đã có một số công trình nghiên cứu về NLKHTN như: Công trình nghiên cứu [19] của nhóm tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng và cộng sự (2018) đã đề xuất các NL thành phần của NLKHTN gồm: NL nhận thức kiến thức khoa học tự nhiên, NL sử dụng ngôn ngữ khoa học tự nhiên, NL phát hiện và sử dụng kiến thức khoa học tự nhiên để giải quyết các vấn đề thực tiễn, NL thực hành thí nghiệm và vận dụng vào cuộc sống, NL thu thập, xử lý phân tích dữ liệu thực nghiệm, NL công bố kết quả. Các tác giả tiến hành điều tra về nhận thức, hiểu biết của GV về NLKHTN của học sinh trung học cơ sở.
Kết quả điều tra cho thấy rằng đa số GV nhất trí với việc xác định thành phần và các biểu hiện của NLKHTN, tuy nhiên một số biểu hiện chưa được GV chú trọng do còn ảnh hưởng của các PPDH nặng về truyền thụ kiến thức. Nhiều GV còn khó khăn trong việc xác định NL thành phần. Theo [20], một nghiên cứu khác của nhóm các tác giả này (2018) về phát triển NLKHTN cho học sinh Trung học cơ sở trong DH môn Khoa học tự nhiên, các tác giả cũng đưa ra NL thành phần của NLKHTN và biểu hiện tương ứng. So với công trình 7 [19] các tác giả đã bổ sung NL thành phần là NL đánh giá định tính và định lượng kết quả thực nghiệm, từ đó đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng BT tiếp cận PISA nhằm phát triển NLKHTN cho HS.
Theo [27], tác giả Lê Thái Hưng, Nguyễn Thị Phương Vy đã đưa ra tổng quan về NL khoa học và các tiêu chí đánh giá. Các tác giả cũng đã so sánh cấu trúc NLKHTN trong Chương trình phổ thông tổng thể với cấu trúc NL khoa học do Australia, Singapore, OECD đưa ra. Thông qua sự phân tích đã thấy được điểm tương đồng với các nước tiên tiến. Qua đó, khẳng định tính phù hợp của yêu cầu, mục tiêu trong Chương trình phổ thông tổng thể 2018 của Việt Nam với bối cảnh thế giới hiện nay.
Trong nghiên cứu trên, tác giả đã đề xuất khung đánh giá NL khoa học trong DH môn Khoa học tự nhiên chương trình mới đối với HS lớp 6. Tiếp tục phát triển giáo dục khoa học tự nhiên, bước sang giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp- bậc THPT, các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học được tách ra thành ba môn học riêng biệt.