Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bai tập có nội dung thực tiễn trong day học mạch nội dung “Dòng điện, mạch điện” - Vật lí 11 (chương trình 2018) Chương 2. Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn trong dạy học mạch nội dung “Dong điện, mạch điện” - Vật lí 11 (chương trình 2018) Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 13 CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC XÂY DUNG VA SỬ DỤNG BAI TẬP CÓ NOI DUNG THỰC TIEN TRONG DAY HỌC MẠCH NOI DUNG “DONG ĐIỆN, MẠCH ĐIỆN" - VAT LÍ 11 (CHUONG TRINH 2018) 1. Khái niệm năng lực Hiện nay, giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn chuyên đổi từ day học theo định hướng tiếp cận nội dung sang định hướng dạy học phát trién nang lực, chú trong hình thành phẩm chất và năng lực của HS thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng. Trong giai đoạn đôi mới giáo dục nảy, khái niệm năng lực được dé cập trong nhiều nghiêu cứu từ nhiều bình diện, góc độ khác nhau ở trong cũng như ngoài nước. Khái niệm NL được đẻ cập lan đầu tiên bởi nhà tâm lý học Robert W.
White(White, 1959) vào năm 1959 trong nghiên cứu về “Xem xét lại động lực: Khái niệm về năng lực” và từ đó đến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau về NL. Phan lớn khái niệm NL của các tải liệu nước ngoài quy NL vào phạm trù “kha năng ”(Hoàng Hòa Binh, 2015). Từ lĩnh vực kinh tế học, khái niệm NL được đề cập dưới góc nhìn của các chuyên gia kính tế, tô chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là kha năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bồi cảnh cụ the(OECD, 2002a). Trong Hội nghị chuyên dé về những năng lực cơ bán của Hội đồng châu Âu, F.
Weinert cho rằng năng lực là "tông hợp các kha năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những van đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp”(Franz Emanuel Weinert, 2001). Cũng trong cùng hội nghị nay, J. Coolahan cũng nêu lên theo quan điểm của mình năng lực là "những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm. các giá trị va thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành GĐÐ"(OECD, 2002b).
Trong khoa học vẻ xây dựng va phát trién Chương trình giáo duc, chương trình Giáo dục Trung học bang Québec (Nanada) định nghĩa NL như là một khả năng hành động hiệu qua bằng sự có gắng dựa trên nhiều nguồn lực(Québec- Ministere de I'Education, 2004). Còn trong chương trình giáo dục phô thông New Zealand có viết “Nang lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phan ứng thích đáng trong các tình huéng phức tap nao đó”(The Ministry of Education - Wellington, 2007). Tại Việt Nam, các tác giả cũng đưa ra một số khái niệm về NL: “Nang lực có thé được hiểu là kha năng, là hiệu suất công việc được chứng minh qua kết quả hoạt động thực tế và nó liên quan đến kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc diém cá nhân`(Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2015); “Năng lực là khả năng huy động, tông hợp kiến thức, kĩ năng và 14 các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chi,. dé thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định "(Đỗ Hương Trà, 2015).
Một số tài liệu khác cho rằng NL là đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân(Hoàng Hòa Bình, 2015). Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Năng lực là đặc điềm của cá nhân thê hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thảnh thục vả chắc chắn - một hay một số dang hoạt động nào do”. Từ điện tiếng Việt định nghĩa năng lực như sau: “NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nảo đó với chất lượng cao”. Dưới góc nhìn của Tâm lý học, Tran Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uan quan niệm rằng “NL là tông hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cau đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy."(Trần Trọng Thủy & Nguyễn Quang Uan, 1998) Còn theo Phạm Minh Hạc: “Nang lực chính là một tô hợp các đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tô hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tô hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào day”.(Pham Minh Hac, 1997) Từ góc nhìn của giáo dục hoc, Nguyễn Anh Tuan nêu một cách khái quát rang năng lực là một thuộc tính tam lý phức tạp.
là điểm hội tụ của nhiều yếu tô như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sảng hành động và trách nhiệm(Nguyễn Anh Tuan, 2002). Theo Dang Thanh Hưng: “Nang lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể"(Đặng Thanh Hung, 2012). Còn theo quan điểm của Hoàng Hòa Binh: “Nang lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rén luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định. đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thé”(Hoang Hòa Bình, 2015).
Bên cạnh đó, Phùng Việt Hải quan niệm rằng “NL là một tập hợp hoặc tông hợp hết tất cả những thuộc tính của cá nhân con người, nó gắn liền với kiến thức, kĩ năng, thái độ trong một lĩnh vực hoạt động tương ứng, đảm bảo cho các hoạt động đạt được kết quả cao như mong muôốn.”(Phùng Việt Hai, 2015) Chương trình GDPT Tong thé 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đưa ra định nghĩa năng lực một cách day du: “Năng lực là thuộc tinh ca nhân được hình thành, phat triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tang hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thế (Bộ Giáo dục và Dao tạo, 201 8a). 15 Từ các khái niệm trên, có thé nói rằng NL là một khái niệm được hiểu theo những cách khác nhau theo những giai đoạn lịch sử khác nhau và theo những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Từ đó, ta có thể định nghĩa: NL là một loại thuộc tính, không chỉ bao ham các đặc tinh bam sinh ma còn ca các đặc tính hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện của con người và cho phép con người huy động tông hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Cấu trúc chung của năng lực Đề hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phan và cau trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau, việc mô tả cầu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Trong đó, cầu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của bốn nhóm năng lực được thé hiện trong sơ đồ sau: Hình 1. Các thành phan của năng lực Năng lực Năng lực chuyên môn phương pháp xã hội Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lap, có phương pháp va chính xác vẻ mặt chuyên môn.
Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung — chuyên môn và chủ yếu gắn với các kha năng nhận thức va tâm lí vận động. Nang lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bảy tri thức.
Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận — giải quyết van dé. Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. 16 Năng lực cá thé: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát trién cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triên năng khiếu, xây dựng vả thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuân giá trị đạo đức và động cơ chỉ phối các thái độ và hành vi ứng xứ.
Nó được tiếp nhận qua việc học cám xúc — đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.(Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường, 2015) Với mô hình cấu trúc năng lực trên, ta nhận thấy các năng lực này không tách rời nhau mà bổ sung cho nhau và đây cũng chính là bốn nhóm năng lực thể hiện khung năng lực can đạt cho HS. Do đó, việc nâng cao năng lực của HS chính là nâng cao các năng lực thành tô này. Năng lực giải quyết van đề 1. Khái niệm năng lực giải quyết van đề Theo Tổ chức các nước Kinh tế phát triển OECD, giải quyết van dé là năng lực của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức dé hiéu và giải quyết các tinh huéng có vấn đẻ khi giải pháp giải quyết vấn đề chưa rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huéng dé suy nghĩ va xây dựng giải pháp dé giải quyết van đề.(OECD, 2010) Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Nang lực GQVD chính là hoạt động trí tuệ được coi lả trinh độ phức tạp và cao nhất vẻ nhận thức, vi cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân. Dé GQVD, chủ thẻ phải huy động trí nhớ, tri giác, lí luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực của bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế"(Nguyễn Cảnh Toàn & Lê Hải Yến, 2011).