Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng bản đồ tư duy vào dạy các bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông (chương trình chuẩn) Chương 2: Vận dụng bản đồ tư duy vào dạy các bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông (chương trình chuẩn) Chương 3: Thử nghiệm một số bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông (chương trỡnh chuẩn) bằng phương pháp bản đồ tư duy và sơ bộ đánh giá 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY VÀO DẠY CÁC BÀI VĂN HỌC SỬ TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN) 1. Cơ sở thực tiễn Để khẳng định tính cấp thiết của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số giờ dạy văn học sử trong hai trường trên địa bàn thành phố Hải Phòng. - Trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn - quận Hải An. - Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh - quận Hồng Bàng - Đối tượng, thời gian và phương pháp khảo sát.
+ Đối tượng khảo sát là học sinh ban A ở cả ba khối 10, 11, 12 + Thời gian khảo sát: năm học 2009-2010. + Phương pháp: Dự giờ, trao đổi, phỏng vấn giáo viên và học sinh; phân tích số liệu thống kê. - Kết quả khảo sát: Từ hoạt động khảo sát, trao đổi phỏng vấn giáo viên giảng dạy và học sinh, chúng t«i đã rút ra được một số kết luận về thực trạng dạy và học văn học sử như sau. Những điểm đã đạt được 1.
Về néi dung bài học Ở trên phương diện này có thể nói việc dạy văn học sử đã đạt được những thành công nhất định. Qua các tiết chúng tôi đã dự giờ ở cả ba trường khảo sát thì hầu hết các giáo viên đã truyền tải khá đầy đủ nội dung kiến thức cơ bản có ở trong sách giáo khoa. Khi xem vở ghi của học sinh, chúng tôi nhận thấy phần lớn các em đều chép được tất cả các kiến thức mà giáo viên cho ghi dưới dạng đọc chép theo trình tự các đề mục có s½n trong sách giáo khoa. Ở một số tiết do các giáo viên có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao dạy thì bài giảng trở nên phong phú, sinh động hơn về kiến thức.
Giờ dạy 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn học sử là cơ hội cho các thầy cô phô diễn kiến thức của mình về thời kỳ văn học, về tác giả văn học và tác phẩm văn học. Có thể khẳng đinh, ngoài những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa thì trong giờ văn học sử, học sinh cũng được bổ sung khá nhiều kiến thức ở dạng liên hệ mở rộng. Về phương pháp giảng dạy Đây là phần mà chúng tôi quan tâm hơn cả trong các giờ khảo sát. Ở tất cả các tiết dự giờ, chúng tôi đều nhận thấy các thầy cô giáo có chú ý đến việc hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa.
Các thầy cô có thể yêu cầu các em đọc nhẩm văn bản bài học hoặc đọc to từng phần. Sau đó, tìm các luận điểm cơ bản của bài học, phân tích và minh họa chúng. Theo chúng tôi, đây là phương pháp rất cần thiết trong giờ văn học sử nhằm hình thành ở học sinh năng lực nghiên cứu ban đầu. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên đã phối hợp tốt giữa phương pháp thuyết trình với việc sử dụng các đồ dùng trực quan.Ví dụ như: dạy bài khái quát thời kỳ văn học, giáo viên thường sử dụng sơ đồ.
Hoặc dạy các bài về tác gia văn học, các thầy cô sử dụng những bức chân dung tác giả hoặc tranh ảnh về quê hương tác giả…rất tốt cho khả năng phân tích - tổng hợp cũng như năng lực bình giá các hiện tượng và con người văn học của các em. Ngoài ra, nhiều thầy cô đã tổ chức cho học sinh tham quan thực tế các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, đền thờ các danh nhân văn hóa, văn học lớn…có liên quan đến các bài văn học sử trong chương trình. Hình thức hoạt động này không chỉ tốt cho việc hồi cố, tái hiện, khắc sâu các kiến thức văn học sử mà còn rất cần thiết để bồi dưỡng cho các em tình yêu và niềm tự hào đối với truyền thống văn học và truyền thống dân tộc- vốn là mục tiêu cần đạt của các giờ văn học sử. Như vậy, thực tế dạy học văn học sử trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về hai phương diện nổi bật là nội dung kiến thức bài học và phương pháp giảng dạy.
Về phương pháp thì hầu hết các phương pháp được đề xuất trong sách giáo viên như: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuyết trình, diễn giảng, đặt câu hỏi, trực quan, sử dụng sách giáo khoa, trần thuật và kể chuyện có nghệ thuật…đều ít nhiều được các giáo viên sử dụng và thu được những hiệu quả học tập đáng kể. Việc đánh giá một cách khách quan, đúng đắn những thành tựu đó sẽ là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi có đề xuất khoa học thích hợp trong luận văn của mình. Những điểm còn tồn tại Bên cạnh những thành tựu đã được ghi nhận ở trên thì thực trạng giảng dạy phân môn văn học sử còn tồn tại những hạn chế. Hạn chế trong hoạt động của giáo viên a.
Về thiết kế giáo án Khi tiến hành khảo sát giáo án thiết kế bài giảng các tiết văn học sử của giáo viên các trường, chúng tôi thấy các thiết kế đều có chung những hạn chế cơ bản sau: - Các thíết kế thường được chia thành hai cột: Hoạt động của giáo viên, học sinh và nội dung cần đạt. Ở cột một “Hoạt động của giáo viên, học sinh” chỉ thấy ghi các hoạt động của giáo viên trong tiến trình lên lớp như gọi học sinh đọc sách giáo khoa, trả lời câu hỏi…Hoạt động của học sinh không được tính đến. Ở cột hai “Nội dung cần đạt” thì các kiến thức văn học sử có trong thiết kế thực chất chỉ là lược hóa văn bản sách giáo khoa theo đường thẳng từ đầu đến cuối. Chúng tôi xin minh họa bằng giáo án bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX” của thầy T.
Giáo án của thầy được trình bày như sau: I. Các giai đoạn phát triển 1. Giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV a, Về lịch sử: Sau khi thoát khỏi ách thống trị hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta đã xây dựng đất nước theo hình thái xã hội phong kiến ngày một rõ nét. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp thống trị, của nhân dân của dân tộc về cơ bản là thống nhất.
Nhận xét chung: - Văn học viết chính thức ra đời, lúc đầu bằng chữ Hán, đến cuối thế kỷ XIII lại có thêm văn học viết bằng chữ Nôm. - Về thể loại, văn học viết bao gồm: Văn vần: Các thể thơ (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt…) và thể phú. + Văn xuôi: chiếu, biểu, bi, ký, truyện. - Về lực lượng sáng tác: vua, quan, tăng lữ và nhà nho…” Cách thiết kế giáo án như trên là chưa đổi mới theo hướng tích cực hóa người học.Ở đây, học sinh vẫn giữ vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức một chiều do giáo viên truyền đạt.
Cách truyền đạt này không những tạo nên lối mòn trong tiếp nhận tri thức của học sinh, hạn chế sự phát triển các năng lực tư duy cần thiết của các em mà còn làm cho không khí giờ học trở nên buồn tẻ, không hứng thú. Bài văn học sử có dung lượng kiến thức rộng, bao trùm cả một giai đoạn, thời kỳ văn học…đòi hỏi sự liên hệ mở rộng. Song, trong thiết kế của đa số giáo viên đứng lớp, chúng tôi nhận thấy phần liên hệ, mở rộng, đối chiếu, so sánh không được thể hiện rõ. Nếu có, cũng được viết rất sơ sài, qua quít, chiếu lệ.
Thực tế này cho thấy, để dạy văn học sử - những kiến thức mang tính tích hợp, tổng hợp cao mà giáo viên không chú trọng bồi dưỡng, bổ sung kiến thức thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu giảng dạy phân môn này cũng như không thể thành công trong việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ sở cho việc học tốt bộ môn Ngữ văn trong nhà trường. b, Về phương pháp giảng dạy Trong khi đổi mới phương pháp dạy học đang cố gắng khắc phục lối truyền thụ một chiều theo kiểu thông tin- tiếp thụ từ thầy đến trò thì trong các 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giờ văn học sử mà chúng tôi đã dự vẫn tồn tại tình trạng giáo viên làm việc vất vả gần như liên tục trong suốt thời gian giờ học bằng phương pháp thuyết trình, diễn giảng. Theo thống kê của chúng tôi, thời gian làm việc của giáo viên trong giờ văn học sử chiếm khoảng từ 80% đến 85% trong khi thời gian dành cho học sinh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ từ 15% đến 20%. Tính vào thực giảng, nếu giờ học kéo dài 45 phút thì có những giờ học, học sinh chỉ được làm việc từ 7 đến 9 phút.
Đó quả là một thời gian quá ít để phát huy tính tích cực của các em trong giờ học. Thực trạng này xuất phát từ mâu thuẫn vốn có trong các tiết văn học sử giữa khối lượng kiến thức lớn với thời gian phân phối ngắn. Một bài văn học sử thường chỉ được dạy trong từ một đến hai tiết.Ví dụ như bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX với nhiệm vụ cung cấp cho học sinh khối lượng kiến thức khổng lồ về các giai đoạn văn học, về tác giả văn học và các tác phẩm văn học lớn nổi bật trong suốt gần mười thế kỷ lại chỉ được dạy vẻn vẹn trong 90 phút. Vì thế, thông thường để đảm bảo truyền đạt hết kiến thức theo phân phối chương trình, đa phần giáo viên đứng lớp buộc phải chạy đua với thời gian bằng cách cố gắng thuyết trình trọn vẹn kiến thức trong sách giáo khoa cho học sinh mà ít chú ý đến mở rộng kiến thức trong khi khả năng này ở bài văn học sử là rất lớn.
Học để “an toàn” về thời gian khiến giáo viên không có cơ hội lựa chọn và sử dụng những phương pháp dạy học hiện đại cũng như không chú ý đến năng lực tiếp nhận và đặc điểm tâm lý của đối tượng học sinh.