LỜI MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Trong đời sống tinh thần của con người, tôn giáo luôn đóng một vai trò quan trọng nhất định. Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử loài người, tôn giáo ra đời và trở thành một hiện tượng xã hội. Có rất nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới và nhìn chung, mọi tôn giáo đều hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ với những giá trị tốt đẹp.
Tôn giáo đã và đang là một trong những vấn đề quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm đặc biệt. Trong định hướng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, việc giữ gìn sự đoàn kết giữa các tôn giáo vẫn luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số cá nhân, nhóm tín đồ tôn giáo chưa nhận thức và thực hiện đúng các chính sách tôn giáo. Một số vấn đề nổi lên là: tình trạng khiếu kiện, khiếu nại về đất đai, cơ sở thờ tự các tôn giáo; hoạt động tôn giáo trái quy định; lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống đối chính quyền, gây mất an ninh trật tự.
Chính vì thế mà mỗi người dân cần xác định rõ tư tưởng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với chấp hành pháp luật của Đảng và nhà nước. Đó cũng là lý do nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề về tôn giáo ở Việt Nam và sự vận dụng thực tiễn của sinh viên nhằm giải quyết các vấn đề tôn giáo” là đề tài nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp đó. Đồng thời, các phương pháp phân tích - tổng hợp, cụ thể - khái quát, thống kê, đối chiếu được sử dụng để làm rõ đề tài.
Ngoài ra, chúng em đã tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích thông tin, nghiên cứu và đưa ra những nhận xét, đánh giá. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận này nhằm tìm hiểu rõ hơn về tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện tại. Đảng ta đang phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc đưa ra chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo, vừa đảm bảo 5 quyền tự do tín ngưỡng, vừa đảm bảo sự phát triển của cách mạng đi lên xã hội chủ nghĩa. Việc nghiên cứu về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ hiện nay cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự thay đổi và phát triển qua từng thời kỳ của tôn giáo ở Việt Nam.
Nghiên cứu này còn giúp chúng ta nhận biết rõ hơn về sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc và những thế lực nguy hiểm khác vào các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam. Vì vậy, mục đích nghiên cứu về vấn đề tôn giáo của Việt Nam hiện nay và liên hệ thực tiễn với sinh viên là rất quan trọng để chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và chính trị của Việt Nam, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm quý báu để phát triển đất nước và đưa Việt Nam tiếp tục con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ TÔN GIÁO: 1. Một số lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo: 1.
Bản chất của tôn giáo: Tôn giáo ra đời từ rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng nghìn năm qua. Bất cứ tôn giáo nào, với hình thái đầy đủ của nó cũng đều bao gồm: ý thức tôn giáo và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó. Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph. Ăngghen nêu: “… tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế ”.Ăngghen đã giải đáp ba vấn đề cơ bản: Tôn giáo là gì? Tôn giáo phản ánh cái gì? Và phản ánh như thế nào? Định nghĩa trên của Ăngghen cho đến nay vẫn được nhiều người đánh giá cao, vì nó có tính khái quát dưới góc độ triết học, nhưng bên cạnh đó cũng vẫn cần bổ sung thêm cho phù hợp với thực tiễn dưới góc độ xã hội khoa học.
Trong Tập bài giảng Lý luận về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã một mặt khẳng định giá trị của quan điểm của Ăngghen; mặt khác vẫn bổ sung thêm: “ …tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội”. Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ảnh hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Và ở một cách tiếp cận khác, tôn giáo là một thực thể xã hội – các tôn giáo cụ thể (ví dụ: Công Giáo, Tin lành, Phật giáo.), với các tiêu chí cơ bản sau: có niềm tin sâu sắc vào đấng siêu nhiên, đấng tối cao, thần linh để tôn thờ (niềm tin tôn giáo); có hệ thống giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, lễ nghi) phản ánh thế giới quan, nhân sinh 7 quan, đạo đức, lễ nghi của tôn giáo; có hệ thống cơ sở thờ tự; có tổ chức nhân sự, quản lý điều hành việc đạo (người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp); có hệ thống tín đồ đông đảo, những người tự nguyện tin theo một tôn giáo nào đó, và được tôn giáo đó thừa nhận. Còn với chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất tôn giáo được chỉ ra rằng: “Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hoá do con người sáng tạo ra”.
Con người sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ. Nhưng, sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá và phục tùng tôn giáo vô điều kiện. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng cho rằng, sản xuất vật chất và các quan hệ kinh tế, xét đến cùng là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các hình thái ý thức xã hội, trong đó có tôn giáo. Do đó, mọi quan niệm về tôn giáo, các tổ chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt động sản xuất, từ những điều kiện sống nhất định trong xã hội và thay đổi theo những thay đổi của cơ sở kinh tế.
Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mặc dù có sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người cộng sản với lập trường mác xít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân. Trong những điều kiện cụ thể của xã hội, những người cộng sản và những người có tín ngưỡng tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở thế giới hiện thực. Xã hội ấy chính là xã hội mà quần chúng tín đồ cũng từng mơ ước và phản ánh nó qua một số tôn giáo.
Nguồn gốc của tôn giáo: Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế xã hội Trong xã hội công xã nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất và điều kiện sinh hoạt vật chất còn rất thấp kém, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi 8 phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí. Nhưng về sau, bên cạnh những sức mạnh tự nhiên lại xuất hiện những sức mạnh xã hội mà sức mạnh ấy nhiều khi người ta cũng không hiểu nổi nguyên nhân của nó. Xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, đối kháng giai cấp nảy sinh. Khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do không giải thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác v., cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
Các mối quan hệ ngày càng phức tạp, con người càng chịu nhiều tác động của yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi, bất ngờ… với những hậu quả khó lường nằm ngoài ý muốn và khả năng điều chỉnh của mình thì con người càng cần đến tôn giáo. Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của những bất công xã hội, cùng với những sự thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị - đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. Trong cơ chế thị trường mang tính toàn cầu hiện nay, con người càng chịu tác động mạnh mẽ với quy mô lớn bởi những yếu tố may rủi, ngẫu nhiên, bất thường. Đó là một trong những lý do quan trọng cho sự phục hưng của tôn giáo.
Nguồn gốc nhận thức Các nhà duy vật trước C.Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Còn những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lại quan tâm trước hết đến nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó. Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn.
Chức năng khoa học là tìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại chưa biết; vận dụng các tri thức đã biết để tiếp tục 9 nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người ngày một tiến bộ hơn. Song, ở thời kì lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích một cách hư ảo thông qua lăng kính các tôn giáo.