CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục quyền con người cho sinh viên 1. Quan niệm giáo dục quyền con người cho sinh viên Quan niệm về giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề lý luận quan trọng đầu tiên của giáo dục quyền con người nói chung và giáo dục quyền con người cho SV nói riêng. Việc làm sáng tỏ quan niệm về giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề lý luận cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với việc nhận thức nhiều khái niệm khác trong lý luận về GDQCN và định hướng cho các hoạt động thực tiễn giáo dục quyền con người.
Quan niệm về giáo dục quyền con người là một bộ phận được hình thành từ quan niệm giáo dục pháp luật và quan niệm quyền con người. Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứu quan niệm về giáo dục quyền con người phải xuất phát và dựa vào các quan niệm về GDPL và quyền con người. Quan niệm về giáo dục pháp luật Cho đến nay, ở nước ta vẫn có những quan điểm khác nhau về giáo dục pháp luật. Cơ bản, có thể khái quát 4 nhóm quan điểm về GDPL như sau: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và của giáo dục đạo đức.
Nghĩa là, nếu tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt thì trên thực tế có thể đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân [7]. Quan điểm này đã không cân nhắc đến tính độc lập tương đối mang tính thực chất của GDPL, chưa xác định rõ những điểm tương đồng và những điểm khác biệt của các dạng thức giáo dục đó. Nhóm quan điểm thứ hai, đồng nhất giáo dục pháp luật với tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Trong hoạt động khoa học và cuộc sống hàng ngày chúng ta hay sử dụng các khái niệm: tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, giải thích pháp luật, GDPL.
Nhìn nhận chung, mọi người đều cho rằng đó là các dạng hoạt động nhằm 8 hướng đến việc hình thành và nâng cao văn hóa pháp luật, ý thức pháp luật trong xã hội. Tuy nhiên, đó là những khái niệm không hoàn toàn đồng nhất nhau. Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng giáo dục pháp luật đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tiến hành ngoài xã hội và không phải là GDPL. Quan điểm như vậy về giáo dục pháp luật là quá hạn hẹp.
Giảng dạy pháp luật trong nhà trường được thực hiện đối với một nhóm đối tượng nhất định trong xã hội về chương trình, đội ngũ giáo viên, phương tiện, phương pháp giảng dạy…phù hợp với từng đối tượng cụ thể ở các bậc học. Giảng dạy pháp luật là một trong những hình thức GDPL ở nước ta. Giáo dục pháp luật có nghĩa rộng hơn, có hình thức thực hiện đa dạng hơn, việc dạy và học pháp luật trong nhà trường là một bộ phận quan trọng giúp đối tượng có nhận thức, hiểu biết cơ bản và tạo niềm tin một cách có cơ sở đối với pháp luật. Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng không có khái niệm giáo dục pháp luật.
Theo quan điểm này, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi chủ thể có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật, do đó, không cần đặt ra vấn đề GDPL. Đây là quan điểm một chiều và chưa thấy hết được vai trò, giá trị, nội dung rộng lớn của pháp luật, của giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, yêu cầu “tăng cường công tác giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng” [9, tr.57-58] luôn là bức thiết trong chỉ đạo hoạt động. Từ những phân tích trên luận văn thống nhất với quan niệm về GDPL sau: giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức, giá trị pháp luật, tình cảm, sự tôn trọng pháp luật và hành vi phù hợp với pháp luật, xây dựng lối sống và văn hóa pháp luật [21, tr.
Quan niệm về quyền con người Quyền con người là nội dung của giáo dục quyền con người, cho nên quan niệm rộng hay hẹp về QCN có tác động đến việc xây dựng chương trình, nội dung giáo dục quyền con người. Vì thế, việc xây dựng quan niệm GDQCN cần xuất phát từ và dựa vào quan niệm quyền con người. Để xây dựng nội dung, chương trình giáo dục quyền con người phù hợp, cần có cách tiếp cận rộng trong quan niệm về QCN, thể hiện ở những nội dung quan trọng sau: Thứ nhất, tiếp cận quyền con người với tư cách là một khoa học – khoa học QCN. Khoa học quyền con người là hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, tri thức có liên hệ nội tại với nhau về QCN.
Nhận thức khoa học về quyền con người giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực GDQCN. Thứ hai, tiếp cận quyền con người với tư cách một lĩnh vực pháp luật – pháp luật về quyền con người. Pháp luật về QCN bao gồm tổng thể mục đích, định hướng, các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật về QCN có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân thành các chế định và thực hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người. Pháp luật về quyền con người là một hệ thống bao gồm hai bộ phận cấu thành là hệ thống cấu trúc pháp luật về QCN và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người.
Pháp luật về quyền con người là một tiểu hệ thống, một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Thứ ba, tiếp cận quyền con người với tư cách là một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh vực của đời sống con người. Thực tiễn quyền con người là những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội trong lĩnh vực QCN nhằm hiện thực hóa quyền con người; thể hiện bản chất của QCN, của con người. Nhờ vào và bằng thực tiễn quyền con người như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình con người thỏa mãn các nhu cầu về quyền, làm chủ các quyền của mình.
Có thể nói, thực tiễn quyền con người tồn tại trong các quan hệ xã hội hiện thực là phương thức tồn tại cơ bản của quyền con người, của con người. Khái niệm giáo dục quyền con người Quan niệm về giáo dục quyền con người được hình thành trên cơ sở quan niệm về GDPL và quan niệm về quyền con người. Do đó, có thể phân tích quan niệm về GDQCN theo những nội hàm sau: Thứ nhất, giáo dục quyền con người là hoạt động hướng đến con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm về QCN, rèn luyện kỹ năng, năng lực và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với văn hóa quyền con người, chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Giáo dục quyền con người là một bộ phận của quá trình phát triển con người, quá trình tái tạo tri thức, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm của con người.
Con người được giáo dục về QCN là một trong những nhân tố quan trọng nhất, vừa là mục tiêu, là động lực, vừa là chủ thể, là nguồn vốn đặc biệt quan trọng để phát triển xã hội. Thứ hai, giáo dục quyền con người là một tiểu hệ thống có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các tiểu hệ thống khác của giáo dục pháp luật như: giáo dục luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự, luật tố tụng dân sự. Quan niệm này được hình thành dựa trên cách tiếp cận rộng nhất của GDPL, gắn kết nó với quá trình xã hội hóa pháp luật của cá nhân. Con người pháp luật, con người nhân quyền được hình thành và phát triển là do tác động lẫn nhau của tổ hợp các yếu tố xã hội rộng lớn như: pháp luật, chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội, đạo đức,.
trong quá trình con người tham gia vào các quan hệ xã hội. Hay, quá trình hình thành con người pháp luật, con người nhân quyền là quá trình chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (chế độ kinh tế, chế độ chính trị, môi trường sống) và các nhân tố chủ quan (định hướng giá trị, lợi ích của cá nhân, tính tích cực chính trị - xã hội, ý thức và văn hóa pháp luật. Các yếu tố khách quan đóng vai trò tạo ra các điều kiện, môi trường hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với giáo dục quyền con người. Các nhân tố chủ quan đóng vai trò tạo ra động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với GDQCN.
Quan niệm giáo dục quyền con người theo 11 nghĩa rộng có ý nghĩa quan trọng là: thấy được quá trình xã hội hóa pháp luật của cá nhân nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng chịu sự tác động, sự chi phối của rất nhiều yếu tố xã hội; không đồng nhất, không coi giáo dục chính trị, giáo dục tư tưởng, giáo dục đạo đức, hoặc coi GDQCN chỉ là việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về quyền con người. Thứ ba, giáo dục quyền con người là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể giáo dục quyền con người để truyền tải, truyền đạt những nội dung (thông tin, tri thức, năng lực về quyền con người), thông qua các hình thức và phương pháp khác nhau đến đối tượng tiếp nhận GDQCN nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định. Như vậy, có thể hiểu khái niệm GDQCN: là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của các chủ thể giáo dục quyền con người đến đối tượng giáo dục quyền con người thông qua các hình thức và phương pháp nhất định nhằm trang bị tri thức quyền con người, kinh nghiệm, kỹ năng về quyền con người, giá trị, thái độ và hành vi tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người [21, tr.