Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 1. Nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 1. Nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo 1. Nhận thức về tín ngưỡng Thuật ngữ “tín ngưỡng” trong tiếng Anh được dùng là “beliefs/faith” hoặc “to believe” có nghĩa là niềm tin nói chung hay tin vào ai, tin vào một điều gì đó.
Có nhiều loại niềm tin, nhưng khi dùng khái niệm tín ngưỡng là muốn nói đến niềm tin của con người vào một đấng siêu nhân, thần bí, vào một đấng sáng tạo; niềm tin này là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng cấu thành của tôn giáo. Theo Từ điển Hán- Việt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng được giải thích: “Lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1,tr. Theo Từ điển Tiếng Việt do tác giả Văn Tân chủ biên, tín ngưỡng nghĩa là: “Tin tưởng vào một tôn giáo: Tự do tín ngưỡng” [40, tr. Nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng tín ngưỡng có hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con người về một chủ thuyết, một lực lượng nào đó. Tín ngưỡng tôn giáo chỉ là một dạng của tín ngưỡng nói chung. Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng là đức tin, niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” (hay còn gọi là “cái thiêng”) - cái đối lập với cái “trần tục” hiện hữu mà con người có thể cầm nắm, sờ mó, quan sát được; là một bộ phận cấu thành chủ yếu của tôn giáo. Theo các nhà khoa học và quản lý thì: Tín ngưỡng là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ công xã thị tộc, bộ lạc; thể hiện qua những hành vi cúng tế trong dân gian, sùng bái đa thần, không 7 z tuân theo một nghi thức nhất định (tùy theo từng vùng, từng phong tục địa phương có những nghi lễ khác nhau); không có giáo chủ/người khai đạo, không có giáo lý, giáo luật và không có tín đồ hoặc tín đồ không ổn định.
Trong các văn bản mang tính pháp lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời kỳ trước năm 1990 không dùng thuật ngữ “tôn giáo” mà dùng thuật ngữ “tín ngưỡng” khi muốn đề cập đến chủ trương, chính sách đối với tôn giáo. Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Điều 1 có nêu: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào” [6].
Như vậy, khi nói đến tín ngưỡng cũng có nghĩa là nói đến tôn giáo. Sau này, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam mới dùng thuật ngữ “tín ngưỡng” và “ tôn giáo” (để liền hai cụm từ hoặc tách rời bằng dấu phẩy: tín ngưỡng, tôn giáo). Khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [36]. Khoản 2 Điều 2 quy định: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [36].
Khoản 3 Điều 2 quy định: “Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng” [36]. Khoản 4 Điều 2 quy định: “Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động 8 z tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác” [36]. Vậy có thể hiểu: Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống với ước muốn mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Nói cách khác, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành; thể hiện qua những hành vi cúng tế trong dân gian, sùng bái đa thần, không tuân theo một nghi thức nhất định; không có giáo chủ/người khai đạo, không có giáo lý, giáo luật và không có tín đồ hoặc tín đồ không ổn định.
Nói đến tín ngưỡng, người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hoặc một số dân tộc chứ không có tín ngưỡng mang tính quốc gia hay thế giới, tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ như tôn giáo mà mang tính dân tộc, dân gian. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Nhận thức về tôn giáo “Tôn giáo” trong tiếng Anh là “religion” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “relegare” hoặc “relegere”. Từ “relegare” biểu thị “buộc lại với nhau”, “liên kết với nhau”, hàm chứa ý nghĩa “đoàn kết” hoặc “liên kết hữu nghị”; từ “relegere” biểu thị “luyện tập lặp đi lặp lại”, “thực hành khắc khổ”, nói chung là chỉ đặc điểm lặp đi lặp lại của nghi thức tôn giáo.
Từ góc độ tư tưởng, triết học chủ nghĩa Mác - Lênin, C.Mác cho rằng: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”[7, t. Ăng-ghen cho rằng: “Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[7, t. 9 z Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, xuất bản năm 1996 nêu: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ” [43]. Khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [36].
Theo các nhà khoa học và quản lý thì: Tôn giáo là khái niệm dùng để chỉ các loại hình tôn giáo nhất thần/độc thần đã được thể chế hóa bằng các tổ chức gọi là giáo hội (Giáo hội Phật giáo, Công giáo…), được hình thành khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp; có giáo chủ/người khai đạo; có hệ thống giáo lý, giáo luật và nghi lễ chặt chẽ; có tín đồ trên sổ sách quản lý của giáo hội. Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Tôn giáo là niềm tin vào các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh của những người có chung một tổ chức, có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi. Nhận thức về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Khi đề cập đến vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quan điểm phổ biến cho rằng, con người có thể tùy ý lựa chọn niềm tin tôn giáo của mình, là nguyện vọng của cá nhân họ mà điều đó rất có thể nó sẽ bị chi phối và ép buộc do không có sự bảo vê ̣của một chủ thể có quyền lực.
Tuy nhiên, điều đó sẽ thay đổi khi tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận như một thứ quyền năng không dễ bi x̣ âm phạm của con người. Trước tiên, cần hiểu thế nào là quyền con người. Có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về quyền con người, một định nghĩa được trích dẫn nhiều là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc: “Quyền con người là những bảo 10 z đảm pháp lý (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người”. Tuy nhiên quan niệm này xem quyền con người chỉ như phạm trù của Luật học, thực chất là theo quan niệm của trường phái pháp luật “thực định”, chỉ coi quyền con người là những gì đã được ghi nhận trong pháp luật.
Nghiên cứu tư tưởng về nhân quyền của Bộ luật nhân quyền quốc tế (International Bill of Human Rights), tiếp thu ý kiến từ các trường đại học lớn trên thế giới, các sản phẩm nghiên cứu khoa học của Viện nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, có thể đưa ra định nghĩa về quyền con người như sau: Quyền con người là khả năng về các đặc quyền tự nhiên và khách quan của con người, với tư cách là cá nhân con người và với tư cách là thành viên xã hội, được bảo đảm bằng hệ thống chính sách pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế về các giá trị con người trong các quan hệ vật chất, văn hóa, tinh thần, các nhu cầu tự do, phát triển. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy, khi được công nhận là quyền con người, địa vi ̣pháp lý của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã có sự thay đổi đáng kể. Nó được ghi nhận trong văn bản pháp luật, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ, bất cứ một ai cũng không thể tùy tiện xâm phạm tới quyền này.
Trên phạm vi quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong một số văn bản bao gồm các văn bản mang tính chất tuyên ngôn như: Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; các văn bản mang tính chất pháp lý như: Công ước quốc tế về các 11 z quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này trong hệ thống pháp luật của mình.