Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO TRIỀU TRẦN 1. Những tiền đề của sự tồn tại và phát triển Phật giáo triều Trần 1. Tiền đề kinh tế - xã hội Vương triều Trần được thành lập năm 1225 với vua thứ nhất là Trần Thái Tông (1225-1258). Triều Trần tồn tại 175 năm, trải qua 14 đời vua, nhưng giai đoạn hưng thịnh nhất của triều Trần về kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự.là dưới các đời Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông (1258- 1278), Trần Nhân Tông (1279-1293), và Trần Anh Tông (1293-1314).
Khi bắt tay vào tổ chức, xây dựng triều chính, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, nhà Trần một mặt vẫn kế thừa nhà Lý, mặt khác đã có những thay đổi đáng kể cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn đất nước và nhu cầu xã hội. Chính vì vậy, dưới thời Trần, tình hình văn hóa xã hội nước ta có nhiều khởi sắc và tạo được những thành tựu, đặc biệt là về văn hóa nghệ thuật có giá trị trường tồn muôn đời cùng hậu thế. Chính quyền tập trung thống nhất được khôi phục. Sức sản xuất tiếp tục đi lên.
Nông nghiệp phát triển nhờ khẩn hoang, đắp đê, lấn biển. Công thương nghiệp cũng có những bước tiến mới. Nhiều làng thủ công xuất hiện. Kinh tế hàng hóa có khởi sắc.
Thuyền buôn nước ngoài tụ tập đông hơn ở Vân Đồn và các cửa biển khác. Bộ máy hành chính được xây dựng hoàn chỉnh từ trung ương đến tận làng xã. Bộ sách Thông chế được biên soạn, xác định các quy chế, luật lệ, lễ nghi của Nhà nước. Tinh thần dân tộc đã phát triển, được nâng cao thêm sau những cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, tác động mạnh mẽ tới văn học nghệ thuật, văn thơ Nôm ra đời.
Sự phát triển cực thịnh của Phật giáo triều Trần không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, bất thường, mà là một hiện tượng có tính lịch sử tất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nó không những phản ánh những phương diện văn hóa xã hội lúc bấy giờ mà còn cho thấy sự phát triển nội tại của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo thời Trần phát triển trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam (1225-1400) là một giai đoạn phát triển đặc biệt với nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu bảo vệ quyền độc lập, tự chủ của dân tộc. Đây là nhiệm vụ lịch sử mang tính sống còn, buộc các thế hệ cha ông ta phải chấp nhận và giải quyết.
Trong bối cảnh đó dường như mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) đều hướng về một mục đích, quy tụ theo một ý chí nhất định để giải quyết mâu thuẫn cơ bản kéo dài nhiều thế kỷ. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với quân xâm lược phương Bắc mà cụ thể là quân Nguyên Mông. Mặt khác, Phật giáo thời Trần phát triển trên cơ sở sự vận động biến đổi của những nhân tố kinh tế, làm biến đổi kết cấu giai cấp trong xã hội. Đó là sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất dẫn đến sự xuất hiện tầng lớp địa chủ quý tộc trong dòng họ nhà Trần và bộc lộ mầm mống của những mâu thuẫn mới trong quan hệ giai cấp của chế độ phong kiến nhà Trần.
Phật giáo đã được các vua Trần sử dụng để điều hòa, làm dịu đi những mâu thuẫn đó. Trong quan điểm nhân sinh, đạo đức của Phật giáo đã phản ánh khá rõ mục đích này của dòng họ Trần. Chính vì vậy Phật giáo thời Trần được tạo mọi điều kiện để phát triển, một mặt vừa phản ánh nhu cầu, khát vọng của dân tộc Việt Nam đang xây dựng, bảo vệ một quốc gia độc lập, tự chủ và thống nhất; mặt khác, nó là hệ tư tưởng phản ánh nhu cầu và lợi ích của tầng lớp quý tộc dòng họ nhà Trần, đó là duy trì, củng cố quyền lực và địa vị thống trị toàn xã hội của dòng họ này trên cơ sở một quốc gia thống nhất, một chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh có khả năng tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực cho hoạt động chính trị và quân sự. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phật giáo thời Trần phát triển trên cơ sở kinh tế xã hội về cơ bản là chế độ sở hữu Nhà nước về đất đai thông qua công xã nông thôn.
Thực chất của chế độ sở hữu Nhà nước là quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về nhà vua, người đứng đầu Nhà nước chuyên chế. Quyền sở hữu này được hiểu bằng quyền hưởng dụng những sản phẩm thặng dư, quyền thu địa tô do thần dân cống nạp. Tuy nhiên quyền sở hữu Nhà nước lại phải thiết lập trên các công xã nông thôn, và điều này được C.Mác bàn đến khi nói về Phương thức sản xuất Châu Á, chỉ ra sự khác nhau giữa hình thức sở hữu Nhà nước phong kiến phương Đông và phương Tây. Khác với phương Tây, ở phương Đông ông cho rằng nhà vua là người nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, còn các công xã lại được quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng đất cho các thành viên công xã.
Đây cũng là mối quan hệ sở hữu kép về ruộng đất giữa nhà vua và công xã. Chính dựa trên nền tảng kinh tế này, nhà Trần đã xây dựng Nhà nước quân chủ phong kiến độc lập, tự chủ, có khả năng tập trung mọi của cải và nhân dân để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thực hiện di dân, lập làng, lập "điền trang thái ấp", làm các chức năng thủy lợi và trị thủy, đồng thời xây dựng một quân đội hùng mạnh để ba lần đánh tan quân Nguyên Mông (1258,1285,1288). Bản chất của quan hệ sở hữu kép về ruộng đất là bao hàm trong nó sự tồn tại song song hình thức công hữu (công điền) và tư hữu (tư điền), biểu hiện thành mâu thuẫn cơ bản giữa hình thức công hữu về ruộng đất với sự chiếm dụng của tư nhân. Chế độ sở hữu công xã là cơ sở để thiết lập chế độ sở hữu nhà nước và làm nền tảng cho một quốc gia thống nhất, một chính quyền tập trung vững mạnh, đúng như Mác viết: "Chế độ sở hữu công cộng về đất đai và những quan hệ sản sinh từ chế độ tư hữu đó bảo đảm cho công xã nông nghiệp một cơ sở vững chắc"[45;358].
Bàn đến xã hội Đại Việt thời Trần, nhiều người thường quan tâm đến chế độ điền trang thái ấp. Tuy nhiên, không nên hiểu điền trang thái ấp ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đây như là một mô hình thường thấy ở Trung Quốc với những chế độ đặc quyền đặc lợi. Điền trang ở nước ta nói chung, thời Trần nói riêng, không phải là đất cát cứ, không phải là được cấp phong vĩnh viễn. Người chủ điền trang không có địa vị như những lãnh chúa.
Khác với cơ cấu nông thôn nó vẫn nằm trong công xã cổ truyền và vẫn không theo làng xã. Công xã nông thôn từ trước đã được hình thành có gốc rễ bền vững và có những mối tương quan gắn bó với nhau, tạo nên một sự thống nhất, nhất định. Sự thống nhất của nhiều đơn vị tiểu nông để thành ra một "nước". Từ bộ tộc xa xưa, đến một dân tộc dần dần có ý thức sâu sắc hơn về một cộng đồng lớn có quyền lợi chung, có trách nhiệm chung về sự tồn tại của nòi giống và đất nước, nguyên nhân của sự đoàn kết toàn dân để tạo nên các thắng lợi của Vua Hùng, Bà Trưng, Lý Bôn… cho đến Ngô Quyền, chính là do sự trưởng thành ý thức ấy, mặc dù chưa thể gọi đó là ý thức trọn vẹn về một quốc gia.
Các vua nhà Trần tỏ ra là đã mặc nhiên cảm nhận được ý thức này và đã có biện pháp để "kết dính" các công xã nông thôn này thêm bền chặt. Họ đã tận dụng mối quan hệ thân thuộc, quan hệ dòng họ để củng cố cơ cấu dòng họ, đồng thời để thống nhất, độc tôn uy lực của vương triều mình. Các con cháu, anh em tôn thất của nhà Trần được chia điền trang thái ấp mà không được thành chế độ cát cứ phân phong là do đó. Các điền trang không phá vỡ làng.
Văn hóa làng xã cổ truyền vẫn không ngừng tiếp nối truyền thống của mình, không gặp trở ngại. Các chủ điền trang thái ấp đều tự giác ý thức trách nhiệm đối với vương triều, tức là đối với Nhà nước. Bằng chứng hùng hồn nhất của sự khuôn theo làng xã, tôn trọng văn hóa công xã này là Hội nghị Diên Hồng nổi tiếng trong lịch sử nước ta. Không phải là các vương hầu được gọi về Thủ đô để Quan gia tham khảo ý kiến mà phải là các bô lão.
Đặc biệt, khi nói tới văn hóa thời Trần thì không thể bỏ qua văn hóa Phật giáo. Bởi văn hóa Phật giáo thời Trần mang sắc thái riêng. Khi nhắc tới Phật giáo thời Trần thì không thể tránh khỏi có sự băn khoăn, vì sao đi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 theo đạo Phật mà nhà Trần vẫn tiến hành được cuộc chiến tranh, lại tiến hành một cách thắng lợi? Vì sao đi tu là phải thoát ly, phải diệt dục mà vẫn cứ có những ông vua, ông tướng với bao nhiêu quyền lợi vật chất không hề có bóng dáng sắc không, và hầu hết các môn đồ Phật tử dưới thời đại nhà Trần, lại đều là những con người nhập cuộc. Có lẽ, do các thiền sư, các nhà vua đời Trần đã có chủ trương xây dựng một thứ tôn giáo riêng của người Việt Nam, dù đó là tôn giáo Phật.
Điều này được thể hiện trong sự hình thành và phát triển của Trúc Lâm Yên Tử. Tổ Trúc Lâm thứ nhất (Trần Nhân Tông), là một ông vua gần như hiện thân khác của Tất Đạt Đa ở đất nước Việt Nam (có đủ xuất xứ, bước đi như Phật Tổ). Phật đã có ở Việt Nam, không phải ở đâu xa lạ. Và lý thuyết của Phật tổ này, căn bản cũng khác với phái Thiền ở Ấn Độ, hay Trung Quốc mà điều chủ yếu của tôn giáo này là sự chuyển hóa từ vô vi xuất thế sang nhập thế hữu vi.
Theo Phật hay theo Nho, vấn đề chủ yếu là ở chỗ "Nam và Bắc bên nào có vua nước ấy làm chủ, không cần phải noi theo nhau"[30; 391].