Chương 1 KHÁI NIỆM LÀNG XÃ, LÀNG VEN ĐÔ VÀ LIÊN KẾT CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ 1. Khái niệm Làng xã Thuật ngữ “Làng xã” hay “làng” nguyên nghĩa thường được dùng để chỉ một cộng đồng cư dân gắn bó, hoặc có gốc rễ, hoặc có mối liên hệ trước hết về mặt đời sống kinh tế, văn hóa với hoạt động nông nghiệp. Vì vậy, xét về mặt lịch sử tồn tại, phát triển của cộng đồng người, nó là mô hình cộng đồng tồn tại rất sớm so với các đô thị. Cũng vì thế vai trò, ý nghĩa của yếu tố “làng xã” là rất quan trọng theo phương diện hình thái học và động lực học của sự tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên, đặc điểm, tính chất và vai trò của loại hình cộng cư này ngoài một số điểm đồng nhất, thì những khác biệt, tính đặc thù của nó luôn thu hút sự chú ý, tìm kiếm của các nhà nghiên cứu. Những khác biệt này không chỉ trong phổ so sánh lớn như phương Đông – phương Tây, hoặc châu lục, mà thậm chí trong những không gian địa lý tự nhiên gần như đồng nhất thì các cộng đồng làng xã cũng có những đặc thù về phong tục, tập quán, lối sống, ngôn ngữ, tổ chức… Đó thực sự là khó khăn cho việc nghiên cứu hiện tượng làng xã, và trả lời câu hỏi “Làng xã là gì” chắc chắn là điều không dễ. Cũng vì vậy, việc tồn tại cho đến nay những điểm khác biệt trong các kiến giải hoặc cách tiếp cận về khái niệm “làng xã” cũng là điều thường gặp. Trong di sản của các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác, vấn đề “làng xã”, đặc biệt là về làng xã của các xã hội cổ truyền phương Đông được Mác đề cập trực tiếp (và cũng không nhiều) trong những phát biểu của ông về “Xã hội Á châu” hay về “Phương thức sản xuất châu Á”.
Từ mẫu nghiên cứu chính là xã hội Ấn Độ, Mác nêu luận điểm gợi ý quan trọng: “Một nhà nước Á châu được ra đời do nhu cầu bức thiết phải kiến tạo những công trình thủy lợi qua sự điều khiển của các kẻ thống trị, và sự tồn tại lâu dài của cái nhà nước này là nhờ sự hiện hữu của tình trạng dân cư sống phân tán tụ tập thành những đơn vị xóm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làng tự cung tự cấp dựa trên cơ sở keo sơn giữa tiểu nông và thủ công gia đình.116] Từ nhận định trên của Mác thì ở Châu Á, điểm chúng tôi chú ý ở đây về vị trí của yếu tố làng xã chính là mệnh đề về vai trò của “làng xã” như là “đơn vị cơ sở”. Dù ngữ cảnh của tác phẩm là để giải thích sự hình thành nhà nước, nhưng có thể hiểu rộng hơn, đó là yếu tố rất đáng chú ý với nghĩa nó chứa đựng trong đó những “ẩn số” giúp giải mã “bí mật” về sự vận động của các xã hội phương Đông. Hàm nghĩa thứ hai này, theo chúng tôi là hướng nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua về hiện tượng “làng xã” của nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam. Một chỉ dẫn khác cũng rất quan trọng từ phương diện kinh điển cho các nghiên cứu về làng xã, đó là những công trình của Lênin về nông dân và tâm lý tiểu nông1.
Ở Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể lấy mốc từ sau 1975 – cả nước thống nhất và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi toàn quốc. Quá trình trên đã tác động và tạo ra những biến động không nhỏ đối với xã hội Việt Nam. Nếu so về lịch sử tồn tại của làng xã cổ truyền ở Việt Nam thì giai đoạn trên vẫn còn là khá ngắn, mặc dù để đo sự biến đổi của một xã hội không thể chỉ lấy tiêu chí thời gian. Trên thực tế chúng ta thấy dấu ấn của quan hệ, tập quán, thói quen, nếp nghĩ, cách ứng xử gắn với tính từ “làng xã” vẫn khá đậm nét trong những ngõ ngách của xã hội Việt Nam hiện đại.
Là người tu hành Phật giáo, gần như toàn bộ hoạt động và cuộc sống gắn bó với các cư dân làng xã, nhưng khi tiếp cận khái niệm làng xã chúng tôi mới cảm nhận rõ sự phức tạp của nó. Trước hết điều đó thể hiện ở sự tồn tại của rất nhiều định nghĩa, quan niệm về làng xã. Để minh chứng cho điều này, xin dẫn ra ở đây một số định nghĩa về “làng xã” Việt Nam: Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh vào tính chất của làng xã truyền thống mà đưa ra định nghĩa về làng: “Làng là điểm tập hợp cuộc sống 1 Có thể tóm tắt luận điểm chính của Lênin về làng tiểu nông như sau: 1/ Nó mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, tự túc tự cấp; 2/ Kỹ thuật lạc hậu, nên về cơ bản vẫn là lao động thủ công; 3/ Nhiều thiết chế cổ truyền vẫn được duy trì, ví dụ “tổ chức thân tộc”; 4/ Tàn dư tâm lý cũ (tâm lý tiểu nông) còn tồn tại ở mức độ đậm đặc do sự bảo tồn những nhân tố thuộc thiết chế cũ. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cộng đồng của mọi người, cuộc sống đa dạng và phong phú, vừa có tính đẳng cấp phong kiến vừa có tính cộng đồng rất đáng quý.
Phan Đại Doãn xuất phát từ cấu trúc của làng xã truyền thống đưa ra quan niệm làng xã như sau: “Cộng đồng làng là sự hợp thành một hệ thống có gia đình cá thể, có họ hàng, có phường hội, có xóm giáp và những mối liên kết vật chất và tinh thần như tộc ước, phường lệ, hương ước và tín ngưỡng tôn giáo, hội hè, đình đám… Làng là tích hợp của những thành tố trên.127] Nhằm làm rõ hơn khái niệm về làng, GS. Phan Đại Doãn còn đưa ra sự phân biệt giữa làng và xã: “Làng là cộng đồng dân cư tự nhiên tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề nghiệp…còn xã là cộng đồng dân cư theo tổ chức hành chính. Trước năm 1945, ở đồng bằng Bắc Bộ nhìn chung làng cũng là xã.TS Ngô Đức Thịnh cũng đưa ra một định nghĩa về làng xã trên cơ sở nhấn mạnh nguồn gốc lịch sử: “Xét về nguồn cội, làng thời phong kiến tồn tại cho tới hiện tại là sự phát triển mở rộng của một gia đình, gia tộc từ thủa khởi đầu, mà gần đây trên cơ sở những cứ liệu điều tra quan hệ thân tộc giữa các gia đình trong một làng cho thấy, hầu như mỗi làng đều từ một họ gốc, một họ lớn nhất… Dần dần cùng với quá trình tăng trưởng dân số, xáo trộn dân cư, quan hệ hôn nhân, các làng từ quan hệ thân tộc là chính trở thành quan hệ láng giềng.315] Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Làng (hay làng xã) gồm 2 lớp nghĩa: “1. Khối cư dân ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là một đơn vị hành chính cấp thấp nhất thời phong kiến; 2.
Những người cùng một nghề, một việc nào đó (làng báo, làng thơ).542] Như vậy với định nghĩa này, nghĩa thứ nhất của quan niệm được dẫn trên phù hợp với khung khổ vấn đề được đề cập của đề tài. Khái niệm làng xã gắn với “khối cư dân nông thôn” là điểm nhấn chính của định nghĩa này. Hoặc tác giả Hữu Ngọc đưa ra quan niệm làng (Làng xã) trên cơ sở nhấn mạnh đặc điểm tổ chức tụ cư: Làng là “Đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt. Nhỏ hơn làng là xóm… Từng nhóm cư nông đã quần tụ thành từng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cư điểm ngoài trời.
Những cư điểm này thường được thiết lập trên những gò, đồi thấp, chân núi, doi đất giữa vùng đất trũng, bên những dòng sông đầm hồ… Các cư điểm có quy mô rất khác nhau, có cư điểm rộng hàng vạn mét vuông và tồn tại hàng ngàn năm. Các cư điểm này thường rào giậu rất chắc chắn để chống thú dữ hoặc giặc dã…”[31, tr.401] Những định nghĩa được nêu ra ở trên dù chưa thật phản ánh đầy đủ sự đa dạng và những khác biệt nào đó về khái niệm làng xã, nhưng trong chừng mực nhất định, nó cũng đủ để thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp. Điểm mạnh của các định nghĩa được nêu trên chính là chỉ ra những góc nhìn khác nhau và rất hữu ích cho việc nghiên cứu về làng xã. Cũng vì thế, việc lựa chọn một quan niệm cung cấp bộ khung lý thuyết có thể phân tích tổng thể các yếu tố của nó sẽ là cần thiết cho đề tài.
Theo chúng tôi, một quan niệm như vậy cần được dựa trên nền tảng phương pháp luận của triết học Mác về xã hội, cụ thể ở đây là của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Từ những phân tích trên, quan niệm làng xã chúng tôi lựa chọn2 cho đề tài nghiên cứu của luận văn bao gồm những nội hàm chính sau đây: Thứ nhất, Làng xã (hay làng) đó là cộng đồng cư trú cơ bản của người Việt, có nguồn gốc từ rất sớm và có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thứ hai, Làng vừa là một cộng đồng kinh tế, vừa là cộng đồng văn hóa, vừa là một đơn vị hành chính (trước cách mạng). Các yếu tố trên trong những tương tác tổng thể của làng có xu hướng nổi trội ở tính độc lập, đóng kín của các xã hội tiểu nông.
Về kinh tế, điểm nổi bật của làng Việt truyền thống là hoạt động kinh tế thường gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của quá trình phân công lao động, ở các làng xuất hiện sự đan xen sản xuất thủ công và buôn bán, hoặc có những làng chuyên về nghề thủ công hoặc buôn bán. Về ruộng đất, các nhà nghiên cứu về làng xã Việt Nam truyền thống đã khái quát, về đại thể có các loại ruộng chính sau: ruộng công (ruộng làng, ruộng họ) và 2 Để hình thành quan niệm này, chúng tôi dựa nhiều trên những kết quả nghiên cứu của Từ Chi. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Về văn hóa, làng xã do tính chất ổn định, chặt chẽ của nó đã đóng vai trò là yếu tố căn bản định hình, lưu giữ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa làng xã không chỉ phản ánh, mà còn có quan hệ nhân – quả với đặc điểm sinh hoạt và lịch sử cộng đồng làng. Về đại thể, nó thể hiện rõ trong các hương ước, tập quán, các sinh hoạt văn hóa – lễ hội, sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo của cộng đồng làng.