Chương 1: Sơ lược quá trình phiên dịch kinh điển Phật giáo và sự vay mượn thuật ngữ Phật giáo gốc Hán trong tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi tập trung nói đến vấn đề dịch thuật kinh điển Phật giáo tại Trung Quốc và Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng bàn về những phương pháp phiên dịch kinh điển tại Trung Quốc và Việt Nam, những vấn đề liên quan đến thuật ngữ v.v… Có thể nói, đây là một chương hoàn toàn lý thuyết nhưng nó giúp cho chúng ta có một cái nhìn khái quát về quá trình hình thành kinh điển Phật giáo và sự phiên dịch của nó. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Phật giáo Nội dung chính của chương này là tìm hiểu về cách thức cấu tạo thuật ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt. Theo sự khảo sát của chúng tôi, thuật ngữ Phật giáo tiếng Hán được cấu tạo theo các phương thức chính sau đây: 1.
Phương thức phỏng âm; 2. Phương thức dịch kết hợp; 3. Phương thức dịch nghĩa. Còn trong thuật ngữ Phật giáo tiếng Việt, có hai phương thức chính là ngoại sinh và nội sinh.
Chương 3: Vấn đề chú giải một số thuật ngữ Phật giáo hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu của chương hai, chúng tôi tiến hành khảo sát một số tác phẩm để thấy được những thuật ngữ Phật giáo nói riêng, từ ngữ Phật giáo chung đã được các tác giả hiểu và vận dụng, giải thích như thế nào trong các tác phẩm đó. Tiếp đó là phần tài liệu tham khảo. Trong luận văn này, chúng tôi đã tập hợp một số thuật ngữ Phật giáo được chia làm ba phụ lục như sau: Phụ lục I: Một số từ ngữ Phật giáo được dịch âm từ tiếng Sanskrit. Phụ lục II: Những thuật ngữ Phật giáo thường dùng.
2 Phụ lục III: Giải thích, đính chính lại một số mục từ có liên quan đến Phật giáo hay những thuật ngữ Phật giáo đã được Nguyễn Lân giải thích trong cuốn “Từ điển từ và ngữ việt – Nam”. Cấu trúc của luận văn gồm ba chương, ở sau mỗi chương có một tiểu kết, trong mỗi tiểu kết là những tóm lượt cơ bản của mỗi chương để cho người đọc tiện theo dõi. CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHIÊN DỊCH KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO VÀ SỰ VAY MƯỢN THUẬT NGỮ PHẬT GIÁO GỐC HÁN TRONG TIẾNG VIỆT 2 Phật giáo, như chúng ta đã biết, đã trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển. Những tư tưởng “uyên thâm” của đạo Phật đã được phiên dịch ra các thứ tiếng khác nhau trên thế giới, trong đó có tiếng Việt.
Quá trình hình thành và vay mượn thuật ngữ Phật giáo gốc Hán liên quan mật thiết với lịch sử phiên dịch kinh điển Phật giáo tại Trung Quốc và Việt Nam.1 Quá trình và phương pháp phiên dịch kinh điển Phật giáo Việt Nam 1.1 Sơ lược quá trình phiên dịch kinh điển Hán tạng 1.1 Tiến trình phiên dịch kinh điển Hán tạng Phật giáo phát xuất từ Ấn Độ, về sau được truyền bá sang nhiều nước quanh khu vực qua hai ngả: Nam, Bắc. Các cụm từ: Phật giáo Nam phương, Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Bắc phương, Phật giáo Bắc truyền đã được hình thành và tồn tại dựa trên yếu tố địa lý của sự truyền bá ấy. Kinh điển theo hệ Nam truyền được ghi chép bằng tiếng Pàli. Kinh điển theo hệ Bắc truyền được ghi chép bằng tiếng Phạn.
Từ chữ Phạn, kinh điển Phật giáo lần lượt được phiên dịch sang chữ Hán và chữ Tây Tạng, hình thành và hoàn thành Đại tạng kinh chữ Hán (Hán tạng), Đại tạng kinh chữ Tây Tạng (Tạng tạng) là hai Đại tạng kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền. Theo một số nhà nghiên cứu tôn giáo, Phật giáo, sau khi du nhập vào Trung Quốc, đã phát triển khá mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu; bởi, đây là vùng đất rộng lớn, có dân cư đông đúc và một nền văn hóa có từ lâu đời. Kinh điển Phật giáo bằng tiếng Phạn - trong giai đoạn đầu có cả những bản kinh bằng chữ của một số nước Tây Vực - đã được đưa vào Trung Quốc qua nhiều ngả và bằng nhiều cách, đồng thời phong trào dịch thuật kinh điển đã phát triển rộng khắp do sự kết hợp giữa các vị sư người Ấn Độ, Tây Vực tới truyền đạo với các vị đại sư và cư sĩ ưu tú của Phật giáo Trung Quốc - trong số này, nhiều vị đã từng lặn lội sang tận Tây Trúc để cầu học, thỉnh kinh. Toàn bộ quá trình dịch thuật và hỗ trợ cho sự dịch thuật ấy đã được thực hiện liên tục, đồng bộ, trải qua hàng mấy trăm năm, dẫn tới việc hình thành Đại tạng kinh chữ Hán đầu tiên vào năm 983, đầu đời Triệu Tống (960-1276).
2 Thêm vào đấy là những công trình chú giải, nghiên cứu, soạn thuật, giảng luận v. có giá trị của các vị đại sư và học giả xuất sắc của Phật giáo Trung Quốc. Tất cả đã tạo cho Đại tạng kinh chữ Hán một sự phong phú, xứng đáng là tiêu biểu nhất cho mảng kinh điển của Phật giáo Bắc truyền. Thường các nhà nghiên cứu Phật học Trung Quốc tạm chia tiến trình dịch phiên dịch kinh điển Hán tạng ra làm ba giai đoạn: cổ dịch, cựu dịch và tân dịch.
Theo đó, kinh điển phiên dịch từ thời Huyền Trang đời Đường trở về sau gọi là tân dịch, còn từ Huyền Trang trở về đến ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần gọi là cựu địch. Còn kinh điển dịch từ Cưu Ma La Thập trở về trước là cổ dịch. Cổ dịch Kinh Phật đầu tiên được dịch từ Phạn văn sang Hán văn là kinh Tứ Thập Nhị Chương do hai cao Tăng Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, người Tây Vực (vùng Trung Á ở phía Tây Trung Hoa) dịch vào năm 76 Tây lịch. Hay nói cách chính xác hơn là các kinh A Hàm Chánh Hạnh, Đại thừa Phương đẳng, Yếu Tuệ, An ban Thủ Ý, Thiền Hành Pháp Tưởng v.
do cao Tăng An Thế Cao dịch vào những năm 147 - 167 Tây lịch. Rồi từ đây trở đi, các vị cao Tăng ở vùng Tây Vực, Kế Tân (Kashmir Bắc Ấn Độ) và Thiên Trúc (Ấn Độ) lần lượt đến Trung Hoa và các vị cao Tăng Trung Hoa tiếp tục du học Ấn Độ mang kinh về nước phiên dịch càng nhiều, làm cho Tam tạng kinh Hán văn ngày càng phong phú. Theo nhiều nhà nghiên cứu, các bản kinh được phiên dịch trong giai đoạn cổ dịch mang nét đặc trưng rất riêng so với những giai đoạn khác. Đó là hệ thống thuật ngữ Phật giáo chủ yếu được vay mượn từ từ ngữ của Đạo giáo, dần dần mới chuyển đổi để tạo những đặc trưng riêng cho lớp thuật ngữ Phật giáo nhưng rất rời rạc.
Giai đoạn này có sự đóng góp rất lớn của đại sư An Thế Cao (thế kỷ II), đại sư Chi Lâu Ca Sấm (147-?), cư sĩ Chi Khiêm (thế kỷ III), đặc biệt là pháp sư Trúc Pháp Hộ (2). Cựu dịch Theo sự phân chia của các nhà dịch thuật kinh điển tại Trung Quốc, những bản kinh, luận Phật giáo được các dịch giả dịch trước thời đại ngài Huyền Trang được gọi là cựu dịch. Đặc điểm nổi bật nhất trong thời kỳ này là “dịch ý”. Người đặc biệt 2 nhấn mạnh đến những bất đồng giữa tân dịch và cựu dịch là ngài Huyền Trang đời Đường.
Ngài Huyền Trang cực lực bài bác sự sai lầm về cách dịch ý của Cựu dịch. Và người đại diện cho phong trào cựu dịch không ai khác hơn là ngài Cưu Ma La Thập. Pháp sư Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva) (344-413) là gương mặt dịch thuật vào hàng kiệt xuất của Phật giáo Bắc truyền, có một ảnh hưởng rất lớn đến sự hoàn thành Đại tạng kinh chữ Hán, cả về mặt tư tưởng và thuật ngữ. Pháp sư người nước Quy Tư, xuất thân từ hàng vương tộc, mẹ là em gái vua nước này, 7 tuổi xuất gia đầu Phật, chịu ảnh hưởng của mẹ, thông tuệ tuyệt vời, đọc rộng, xem khắp, đi nhiều.
Pháp sư Cưu Ma La Thập có mặt tại đất Trường An vào năm 401 [99], bấy giờ là kinh đô của nhà Hậu Tần (384-417), thời vua Diêu Hưng (366-416), sự nghiệp dịch thuật bắt đầu từ đấy cho tới cuối đời, thời gian tuy không nhiều nhưng thành quả đạt được thật là vĩ đại. Hỗ trợ cho thành tựu ấy phải kể đến công đức hộ pháp của vua Diêu Hưng cùng những đóng góp của hàng môn đồ, nhất là 4 vị đệ tử xuất sắc là Tăng Duệ, Tăng Triệu, Đạo Sinh và Đạo Dung, trong đó đáng kể nhất là Tăng Duệ, người đã tham gia hầu hết vào các bản dịch tiêu biểu của thầy (đọc lại, viết lời tựa. Theo mục lục của Đại tạng kinh, tổng số dịch phẩm của Pháp sư Cưu Ma La Thập hiện còn là 15 loại, 53 đề mục, 343 cuốn, bao gồm hết thảy các hệ của Kinh tạng (A Hàm, Bản Duyên, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn, Đại Tập, Kinh Tập), Luật tạng, Luận tạng (Thích kinh luận, Trung quán, Luận tập) và Sử truyện. Học giả Lương Khải Siêu, trong "Phật giáo đại sự biểu" của Phật giáo Trung Hoa, đã ghi nhận: - Năm 403: Kinh Đại Bát Nhã xuất hiện lần thứ 3, do ngài La Thập dịch.
- Năm 404: Bách luận xuất hiện, do ngài La Thập dịch. - Năm 405: Luận Đại Trí Độ xuất hiện, do ngài La Thập dịch. 2 - Năm 406: Kinh Pháp Hoa (định bản) và kinh Duy Ma (định bản) xuất hiện, do ngài La Thập dịch. - Năm 408: Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã xuất hiện lần thứ 3, và luận Thập Nhị môn xuất hiện, do ngài La Thập dịch.
- Năm 409: Trung luận xuất hiện, do ngài La Thập dịch. - Năm 411: Luận Thành Thật xuất hiện, do ngài La Thập dịch [8, tr 47]. Chữ định bản ở đây là chỉ cho sự thành tựu bậc nhất của bản dịch, xét về mặt tư tưởng và ngôn từ. Nói rõ hơn, một số kinh quen thuộc như kinh A Di Đà, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cương, kinh Duy Ma.
với bản dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập, được xem là những định bản, tức là từ trước tới giờ, mọi sự đọc tụng, nghiên cứu, sớ giải, bình luận. đều dựa trên các định bản ấy. Hơn thế nữa, hệ thống thuật ngữ Phật giáo trong Hán tạng đã nhờ vào sự nghiệp dịch thuật của ngài cùng ảnh hưởng của sự nghiệp ấy mà định hình. Học giả Lương Khải Siêu kết luận: "Phật giáo thuộc văn hệ Trung Hoa có một cơ sở vững chắc về học lý để có một sự phát triển có hệ thống thực bắt nguồn từ ngài Cưu Ma La Thập".