phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 16 tiết 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÙNG ĐẤT PHẬT TÍCH VÀ LỊCH SỬ KHỞI DỰNG CHÙA PHẬT TÍCH 1. Đặc điểm tự nhiên xã Phật Tích. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên. Phật Tích là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Mã hành chính: 9349. Phía Tây xã Phật Tích giáp xã tri Phương và Hoàn Sơn có các ngọn đồi: Mâm Xôi, Con Lợn, Con Nghê, Con Phượng… đồi đất không cao, ẩn hiện những cây tràm, vườn tram, cây chè xum xuê cổ thụ. Phía Đông xã Phật Tích giáp xã Việt Đoàn, khu vực xóm Núi Đất (Làng Ngõ Xá) có một gò đất, gò đất nằm thoai thoải, trông xa giống như một hạt ngọc. Phía Nam Phật Tích giáp xã cảnh Hưng và Minh Đạo.
Đoạn đê sông Đuống từ xã Minh Đạo đến xã Tri Phương là đường phân gianh giữa xã Phật Tích và xã Cảnh Hưng. Thủa xưa, sông ngòi nước ta chưa được định hình, những nhánh sông lớn, sông nhỏ hầu như không có đê bao bọc vì thế hang năm mỗi mùa mưa về, cả một vùng rộng lớn ngập chìm dưới nước. Khi mùa khô nước rút nhanh xuống các lòng sông, còn trơ lại lớp phù sa phủ dày khắp các gò bãi, đồng ruộng… Dân số khoảng 5945 người với diện tích đất tự nhiên là 543,81 ha. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 293,45 ha, được chia như sau: Đất ven đê: Do phù sa sông Đuống bồi đắp, quá trình bồi tụ hàng ngàn năm, lớp phủ thực vật bị phân giải thành than bùn.
Lớp phù sa bồi lấp thành những cánh đồng bát ngát phì nhiêu. Đặc tính của loại đất này là mùn cao, ít chua, lượng đạm khá, dễ tiêu, thành pần cơ giới nhẹ. Phù hợp với việc canh tác, cấy lúa, trồng hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Đất phù sa ngập nước xen kẽ đồi núi: Do đặc điểm của địa hình, đồi núi xen kẽ tạo hình lòng chảo, nước ứ đọng, tập trung ở các lang Ngô Xá, Cổ Miếu, Phúc Nghiêm.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất đồi núi Feralíttích: Thành phần sa thạch và phiến thạch sét, đặc tính dễ xói mòn, rửa trôi, dẫn đến bạc màu. Loại đất này phù hợp với việc trồng cây ăn quả và trồng rừng: Trám vàng, thông, bạch đàn… Vấn đề trị thủy là vấn đề nan giải. Dưới thời Nguyễn, dòng sông Thiên Đức bị bồi lấp gây lụt lội triền miên. Năm 1837 tổng đốc Tôn Thất Bật tâu vua “Cửa sông Thiên Đức lối nước chảy bồi lấp gần thành bình địa.
Phía ngoài cửa sông ấy tiếp giáp với sông Nhị Hà lại có đất bãi tầm xa nối liền ở giữa sông đã lâu năm, trước mấy lần khơi thông, lối nước chảy cũ vừa khơi ra lại tắc liền”. Năm 1851 Nguyễn Tư Giảm được cử làm Hiệp Lý Đê Chính đã đem tài năng xin được khơi thẳng một đoạn sông nhưng không được chấp nhận. Tháng 7/1858 nước sông Thiên Đức lên co, gây lụt lội hai huyện Đông Ngàn và Tiên Du. Năm 1861 vua Tự Đức mới đồng ý cho di dân 15 xã ngoại đê và nắn dòng khơi sông đắp đê, xây thêm các cống thoát nước.
Năm 1872, thổng Thụ Chiền lại một lần nữa được phép thực hiện dự án nạo vét lòng sông Thiên Đức, đắp đê ngăn nước lũ đoạn từ Nghĩa Chỉ (Minh Đạo) chạy sát xã Phù Lập (Sộp) nối vào thôn Cao Đường (Tri Phương). Ven theo chân đê, len lỏi giữa cánh đồng làng Phật Tích và Vĩnh Phú có dòng Tào Khê (Khe cựu) rộng chừng 15m – 20m “là hạ lưu của sông Tiêu Tương, huyện Đông Ngàn chảy qua các xã Dương Húc, Đại Vi, Đại Sơn, Vĩnh Phú, Phật Tích, Nội Viên, Chi Nê xuống xã Lam Miệt của huyện Quế Dương, dài 4 dặm, rộng 3 trượng, bình thường nước sâu ba bốn thước, khoảng giữa hạ thu nước sáu, bảy, tám thước”. Dòng Tào Khê là nguồn cung cấp nước tưới, tiêu cho đồng ruộng khu vực phía Nam xã Phật Tích. Đường đi đến xã Phật Tích Từ thủ đô Hà Nội ngược phái về phía Bắc theo Quốc lộ 1A hướng Hà Nội – Lạng Sơn đi khoảng 20km đến thị xã Từ Sơn rẽ phải theo tỉnh lộ, qua cầu Đồng Xép đi 5km là đến di tích.
Hoặc từ Hà Nội đi theo Quốc lộ 1B hướng Hà Nội – Lạng Sơn đi 20km đến cầu Đồng Xép rẽ phải đi 5km là đến di tích. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường thủy: Từ Hà Nội xuôi theo dòng sông Đuống qua hết địa phận Hà Nội, đi tới bến phà Tri Phương, bên kia là xã Đình Tổ, bên này là xã Tri Phương và Phật Tích, lên bến phà thuộc địa phận Tri Phương lên bờ đê đi khoảng 2km là đến di tích. Nói chung, đường đi đến xã Phật Tích đều thuận lợi cho mọi phương tiện giao thông đương bộ. Vị thế danh lam xã Phật Tích Ngược dòng lịch sử, thời các vua Hùng dựng nước, Tiên Du nằm trong bộ Vũ Ninh, vùng đất trù phú của nước Văn Lang xưa.
Đến buổi ngàn năm Bắc thuộc miền này là địa vực của huyện Long Biên. Đến khi đất nước độc lập, lịch sử đặt cho nó cái tên Tiên Du phản ánh một vùng đất kỳ vĩ và lãng mạn. Tiên Du là chiếc nôi ra đời của thiên anh hùng ca ông Gióng, một mô hình anh hùng cứu nước điển hình mà mọi người Việt hôm nay vẫn còn xúc động tự hào. Phật Tích - Tiên Du là vùng đất cổ, một địa danh đầy ắp những huyền tích ly kỳ.
Trong hệ thống Trong hệ thống đồi núi của xã Phật Tích, đẹp nhất là núi Lạn Kha (còn gọi là núi Tiên Du). Núi Lạn Kha nằm trong địa phận làng Phật Tích nên người dân quanh vùng thường lấy tên làng đặt ten cho núi Phật Tích (Núi Lạn Kha) là đoạn cuối của dãy Nguyệt Hằng Sơn có tên nôm là Núi Chè (Trà Sơn) Núi Chè không ao, nhưng ở đó mọc lên muôn ngàn mỏm đá đứng với thông reo vi vút, chứa đựng nhiều huyền tích, huyền thoại kỳ thú. Trên đỉnh núi có khối đá vuông rất lớn, theo các cụ cao niên kể lại đó là bàn cờ tiên gắn liền với sự tích Tiều phu Vương Chất gặp Tiên. Non cao, non Xỉ, non Nghè là các ngọn của núi Phật Tích.
Non Xỉ được giải thích câu chuyện tranh chấp uy tín giữa bà Chúa Chè (Đặc Thị Huệ) và Trạng Bựu. Non Nghè nơi nhân dân xây dựng Nghề Thần Cao Sơn. Núi Bát Vạn nằm ở phái Bắc xã Phật Tích, tiếp giáp xã Việt Đoàn và Liên Bão. Tương truyền rằng: Cao Biền là tướng giặc phương Bắc, sang đánh dẹp phương Nam, vốn giỏi phép thuật, ông phát hiện trên đỉnh Non Tiên (núi Phật Tích) có huyệt đế vương.
Để dân Nam không thể xưng vương mà chống lại triều đình Phương Bắc, Cao Biên đã cho mở ở dưới chân núi làng Trùng Minh một lò gạch, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nung 8 vạn bảo tháp và yểm trên núi Trùng Minh để trấn long mạch, nên gọi là núi Bát Van. Sử chép “Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp, tiếp chiến ở núi Bát Vạn, đắp thành dưới chân núi, khi chết người địa phương lập đền thờ”. Nguyễn Thủ Tiệp, người Phúc Kiến (Trung Quốc), cha là Nguyễn Nê, làm quan đời Tấn (936 – 946) đến chức Kiêu Kỵ Đại Tướng Quân Đô Đốc Quản Bình Dương Hầu. Nhân lúc nước Nam có loạn, Nguyễn Nê mang 1.000 lừa và 8 vạn tinh binh.
Lúc bấy giờ Thiên Sách Vương (tức Ngô Xương Ngập) bỏ triều cống. Nguyễn Nê đem đại quân đến xã Thanh Quả, truyền quân hạ trại, sau lấy người con gái xã Thanh Quả là Nguyễn Thị Mối, sinh được 3 người con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu đều tinh bẩm phi thường. Nguyễn Nê muốn mưu tính việc lớn, bèn ân uy, giáo dưỡng kiêm thi. Lớn lên 3 ông đều trở thành tướng giỏi đánh đâu được đấy.
Ngày 03 - 3 năm Giáp Thìn, Nguyễn Nê không bệnh mà chết, tướng sỹ là Đỗ Hiệu, Trần Mưu đưa về táng dưới núi Thanh Xuân (tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc) con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu ở ại quê mẹ - đất Nam thay nhau nắm giữ binh quyền. Ngô Quyền xưng vương, phong cho Nguyễn Khoan làm Điều hạt Tướng quân, Nguyễn Thủ Tiệp làm Tứ Xuyên Đô Quân, chiếm cứ vùng đất Tiên Du. Ngày nay tại thôn Phúc Nghiêm – xã Phật Tích vẫn còn đền thờ Tướng quân Nguyễn Thủ Tiệp cùng nhiều giai thoại xung quanh những nhân vật truyền thuyết, thêm khẳng định về vùng đất ngàn năm văn vật nơi đây. Xung quanh truyền thuyết tên làng, tên núi, tên chùa, làng Phật Tích nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện mang đậm tính huyền thoai có màu sắc đọa giáo, Phật giáo: Bà chúa Vĩnh, tích chùa Kim Ngưu, chuyện am Mở Mang vị tăng sĩ Ấn Độ Khâu Đà La - Man Nương và đền Nguyên Phi Ỷ Lan thôn Vĩnh Phú, truyền thuyết lăng Quốc Hoa Công Chúa thôn Cổ Miếu, truyền thuyết Từ thức gặp Tiên.
Với vị trí địa linh, cảnh quan có nhiều lợi thế khiến cho làng quê, thôn, xóm trù mật, dân cư đông đúc. Từ trước đời thuộc Tùy – Đường, Phật Tích đã trở thành một trung tâm Phật giáo của người Việt cổ, là nơi hành đạo của nhiều cao tăng, đạo sỹ; chùa tháp được xây dựng khá nhiều. Từ ngôi tháp đổ lộ ra pho tượng A Di Đà vì vậy làng có tên Phật Tích. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lịch sử xã Phật Tích Năm 1975 đoàn khảo cổ học do giáo sư sử học Trần Quốc Vượng làm trưởng đoàn, cùng một số cán bộ bảo tàng Sở văn hóa thông tin tỉnh Hà Bắc đã tiến hành điều tra, khảo cứu một số di chỉ dọc bờ sông Tiêu Tương cổ và núi Lạn Kha, núi Hiên Vân, núi Hổ đã phát hiện nhiều hiện vật. các loại công cụ chết tác bằng đá, vòng khuyên, hoa tai, chuỗi hạt, những mảnh gốm hoa văn hình sóng nước, hình xoắn ốc khắc vạch, vân thừng… bằng phương pháp khoa học Viện khảo cổ đã xác định tương đương với thời đại Đông Sơn, có niên đại cách ngày nay trên 3. Điều đó khẳng định: Vào thời đại đá chuyển tiếp sang thời đại đồ đồng đã có con người đến các địa bàn này cư trú, khai phá rừng núi như các địa danh rừng Nìa, rừng Sộp, rừng Nỗ… xây nhà dựng cửa, lập xóm làng.