CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Định nghĩa và phân loại doanh nghiệp 1. Định nghĩa doanh nghiệp Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Doanh nghiệp như một cái áo khoác (phương tiện) để thực hiện ý tưởng kinh doanh.
Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình mà pháp luật quy định”. Khái niệm Doanh nghiệp còn được làm rõ thông qua phạm trù xí nghiệp.” Xí nghiệp là “Sự kết hợp các nguồn lực sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; nguyên tắc cân bằng tài chính và nguyên tắc hiệu quả.” Từ đó Doanh nghiệp có thể được định nghĩa là một xí nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, mỗi Doanh nghiệp đều là xí nghiệp nhưng không phải mọi xí nghiệp đều là Doanh nghiệp. Một cách khác, định nghĩa doanh nghiệp dựa trên định nghĩa về tổ chức. “Tổ chức là một nhóm có tối thiểu hai người, cùng hoạt động với nhau một cách quy củ theo những nguyên tắc, thể chế và có tiêu chuẩn (văn hóa) nhất định, nhằm đặt ra và thực hiện các mục tiêu chung” (Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2009).
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trường. Phân loại doanh nghiệp - Theo hình thức pháp lý thì ở Việt Nam hiện nay có các loại hình doanh nghiệp: “Hợp tác xã; doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp tư nhân; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh; nhóm công ty; doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.” (Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2009) - Căn cứ theo hình thức sở hữu chúng ta có: Doanh nghiệp một chủ sở hữu và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu; doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp và doanh nghiệp có vốn nước ngoài. 12 - Căn cứ vào mục tiêu hoạt động chủ yếu có hai loại là: Doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp công ích. - Căn cứ vào chức năng hoạt động ta có: Doanh nghiệp sản xuất; doanh nghiệp dịch vụ; doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ - Căn cứ vào ngành kinh tế - kỹ thuật ta có: Doanh nghiệp công nghiệp; doanh nghiệp nông nghiệp; doanh nghiệp giao thông; doanh nghiệp thương mại - Căn cứ vào quy mô sẽ có: Doanh nghiệp quy mô lớn; doanh nghiệp quy mô vừa và doanh nghiệp quy mô nhỏ - Và có thể còn nhiều cách phân loại doanh nghiệp dựa theo các căn cứ khác nữa.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Các khái niệm này thường dựa vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường người ta dựa vào tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu…vv. Ở Việt Nam, theo Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng”. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công là doanh nghiệp nhỏ.” Nghị định số 56/2009/NĐ-CP là nghị định mới nhất định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, như trong bảng dưới đây: 13 Bảng 1-1 Phân loại doanh nghiệp (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP) 1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Phân loại doanh nghiệp sử dụng tiêu chí định tính và định lượng: Tiêu chí định tính dựa trên các đặc trưng cơ bản của các DNNVV để phân loại như: doanh nghiệp có trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp…vv. Tiêu chí định tính thường khó xác định nên chúng chỉ được sử dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp. Tiêu chí định lượng dựa trên các chỉ tiêu có thể lượng hóa như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong đó, số lao động có thể là số lao động trung bình hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp; tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp. Các tiêu chí định lượng đóng là nhân tố chủ yếu giúp xác định quy mô doanh nghiệp. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định. 14 Bảng 1-2 Sự phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực (Nguồn: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, APEC, 1998) 15 Bảng 1.2 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở để phân loại doanh nghiệp theo quy mô.
Các tiêu chí như doanh thu, vốn bị chi phối của thị trường, mức độ phát triển kinh tế xã hội, chỉ số lạm phát… nên không thể ổn định trong thời gian dài và không phù hợp trong việc phân loại doanh nghiệp. Sử dụng số lao động bình quân để phân loại doanh nghiệp được nhiều quốc gia sử dụng để được ổn định lâu dài và thể hiện được đặc thù của ngành và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo đó, “doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người).” Theo Nghị định 90/2001/ NĐ- CP, các doanh nghiệp không phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, đuợc xếp loại nhỏ và vừa nếu đáp ứng điều kiện: “Có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 nguời” , và “Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”.
Như vậy, DNNVV được xác định hoàn toàn theo các tiêu thức về quy mô mà không quan tâm đến hình thức sở hữu. Trong Nghị định mới nhất số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 3 (định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã trình bày bảng phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xét theo ngành kinh tế, tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ trong cả 3 ngành Nông nghiệp, Công nghiệp và dịch vụ đều chiếm con số không đáng kể, trong ngành dịch vụ số doanh nghiệp cỡ vừa chiếm số đông hơn cả (77. 16 Bảng 1-3 Tỷ lệ doanh nghiệp theo ngành kinh tế (Nguồn: Tổng cục thống kê_ Công bố tháng 3/2013) 17 Bảng 1-4: Phân bổ theo quy mô và ngành kinh tế năm 2012 Đơn vị tính: % (Nguồn: Tổng cục thống kê - Công bố tháng 3/2013) Xét về số lượng lao động, với tỷ lệ số lượng doanh nghiệp chỉ 2.3% nhưng các doanh nghiệp lớn sử dụng đến 53.2% tổng số lao động xã hội.
Xét trong nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa thì hầu hết lao động lại tập trung trong loại hình doanh nghiệp nhỏ, thể hiện rõ nhất trong ngành Nông nghiệp và Công nghiệp. Hình 1-1 Tỷ lệ lao động trong doanh nghiệp theo ngành kinh tế (Nguồn: Tổng cục thống kê - Công bố tháng 3/2013) 18 1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp lớn, hiện đại đóng vai trò chi phối, lãnh đạo mạng; doanh nghiệp nhỏ và vừa yếu nên chỉ và thường chỉ có khả năng (nếu tốt) cung ứng bộ phận, chi tiết cấu thành SP của mạng. Chính đó là cơ hội tạo công ăn việc làm, nâng dần trình độ quản trị cũng như công nghệ - kỹ thuật để phát triển.
Các DNNVV giúp giải quyết nhiều việc và cung cấp một khối lượng lớn hàng hóa và dịch vụ cho xã hội; góp phần giảm bớt chênh lệch giàu nghèo; với số lượng lớn và ngành nghề đa dạng DNNVV giúp huy động nguồn tiết kiệm đáng Tỷ lệ đóng góp của DNNVV vào nền kinh tế quốc dân của một số quốc gia như sau (Bảng1-5) : Bảng 1-5 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số quốc gia (Nguồn: hồ sơ các DNNVV của APEC, 2004) Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài Malaysia chiếm 80% các nước còn lại đều chiếm trên 91%, cao nhất là ở nước Anh chiếm đến 99.8% tổng số doanh nghiệp trong nước. Về số lượng lao động thu hút và phần trăm đóng góp vào tổng giá trị gia tăng thì các DNNVV đều chiếm một tỷ trọng khá cao, những tỷ lệ cao nhất đều thuộc về các nước đang phát triển. Về phần trăm trên tổng số lao động, cao nhất là tại Indonesia chiếm đến 88.3% còn về phần trăm trên tổng giá trị gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân thì cao nhất là Philipine chiếm 68. 19 Những nét đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa Các điểm mạnh và lợi thế - Thứ nhất, DNNVV có tính thích nghi cao, đặc biệt rất linh hoạt trước những đòi hỏi và thay đổi của thị trường.
Thể hiện ở chỗ: DN có khả năng thỏa mãn các nhu cầu hữu hạn trong những thị trường mang tính chuyên môn hóa; là nơi sử dụng số đông lao động trình độ kỹ thuật trung bình hoặc thấp; vì quy mô nhỏ, DNNVN cũng có thể gia nhập vào thị trường mới mà ít hoặc không bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp lớn; cũng do tính linh hoạt đó mà DNNVV sẵn sàng phục vụ đến những đối tượng khách hàng ở những nơi vùng sâu, vùng xa, chiếm lĩnh những khoảng trống thị trường mà các doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ. - Thứ hai, dễ khởi nghiệp.