CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VÀ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 4.0 ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG MINH. Khái niệm di sản văn hóa Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa. Những định nghĩa về văn hóa có tính phổ biến được trình bổ trong các sách vở hiện nay nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau như định nghĩa của UNESCO: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.”1 Định nghĩa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.
Theo cách hiểu thông thường, di sản văn hóa được quan niệm như sau: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam 1 UNESCO, Tuyên bố về những chính sách văn hóa, Mexico, 1982 8 và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Di sản văn hóa còn được giải thích có tính luật định như sau: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2. Quan niệm trên đây về cơ bản nêu lên bản chất của di sản văn hóa. Đặc điểm và phân loại.
Đặc điểm Nói tới di sản văn hóa, cần chú ý tới các yếu tố cấu thành: Yếu tố giá trị: là sản phẩm văn hóa có giá trị cao trong đời sống cộng đồng, có khả năng đại diện, tiêu biểu cho văn hóa quá khứ của các dân tộc, và có sức sống cho đến ngày nay. Di sản văn hóa là toàn bộ văn hóa quá khứ còn tồn tại đến hôm nay, tiếp tục có ý nghĩa, vai trò, vị trí trong nền văn hóa đương đại. Yếu tố thời gian: là sản phẩm văn hóa của quá khứ, để phân biệt với sản phẩm văn hóa của hiện tại. Vì thế bất kỳ sản phẩm văn hóa nào của ngày hôm qua còn có khả năng di tồn đến hôm nay đều là di sản văn hóa.
Quá khứ đó có thể đã qua rất lâu, và cũng có thể mới đi qua. Di sản văn hóa có thể đã tồn tại qua hàng nghìn năm, nhưng cũng có thể chỉ mới chấm dứt vai trò chính thức gần đây. Điểm chung của di sản văn hóa là ở chỗ, chúng là sản phẩm của thời kỳ quá khứ, dù đó là quá khứ gần hay quá khứ xa, đó là văn hóa không phải được sinh ra trong hiện tại. Có người cho rằng văn hóa trở thành di sản phụ thuộc vào tuổi của nó, 50 hay 100 năm.
Thực ra điều đó không quan trọng, điều quan trọng là xét về mặt lịch sử, thông thường một nền văn hóa, hay những thực thể văn hóa được xem là quá khứ, khi nó gắn với một chế độ xã hội hay một phương thức sản xuất đã trở thành quá khứ. Việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu hay chấm dứt của một phương thức, một mô hình văn hóa chỉ là mang tính tương đối, vì vậy việc xác định thời điểm bắt đầu của một sản phẩm văn hóa trở thành di sản văn hóa, cũng mang tính tương đối. Phân loại 2 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật Di sản văn hóa, 2001. 9 Di sản văn hóa bao gồm hai loại: Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền băng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”. Có một điểm cần lưu ý, khi phân loại di sản văn hóa, người ta thường dùng phương pháp liệt kê chứ không phân loại theo các tiêu chí thống nhất để nêu tên các loại di sản văn hóa. Ứng dụng công nghệ 4. Cách mạng công nghiệp 4.0 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ 1784) xảy ra khi loài người phát minh động cơ hơi nước, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (từ 1870) khi loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh hơn; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (từ 1969) xuất hiện khi con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử.
Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet v.v … là những công nghệ chúng ta có được nhờ cuộc cách mạng này. Trên cơ sở đó, thế giới không dừng lại ở các trang lịch sử đó mà tiếp tục chuyển động, kéo theo sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4. Được nhen nhóm từ những năm 2000 và đến này đã có những sự bùng nổ to lớn, cuộc cách mạng thứ 4 là cuộc cách mạng nghiêng về các công nghệ số, Internet với mục đích biến thế giới thực thành một thế giới số. 3 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật Di sản văn hóa, 2001.
10 Hình 1: Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghiệp Khái niệm Công nghiệp 4.0 lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011. Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.0) bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn: Cụ thể, đây là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS). Bản chất của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất.
Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây. Ứng dụng công nghệ 4.0 trong các lĩnh vực. Ứng dụng công nghệ 4.0 trong giáo dục. Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hệ thống giáo dục đã có những bước chuyển mình đầy mạnh mẽ.
Với cuộc cách mạng 4.0 nổ ra trên toàn cầu , mọi người kết nối với nhau thông qua internet, chính vì lý do đó mà quá trình trao đổi tri thức, tiếp cận tri thức, sự phổ cập của tri thức mới, 11 giữa người thầy và người học phải được đổi mới để theo kịp được xu hướng công nghệ 4. Sự ra đời của các thiết bị thông minh, smart phone, máy tính… giúp con người tiếp cận nhanh với tri thức, rút ngắn khoảng cách tiếp cận tri thức mới với người học. Giáo dục trong kỷ nguyên số 4.0 là quá trình chuyển đổi giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Sự vươn lên và phổ biến của IOT (Internet vạn vật) đã giúp người học chủ động tiếp cận nguồn tri thức khắp mọi lĩnh vực chỉ với 1 chiếc smartphone có kết nối Wifi.
Vai trò người thầy đã có sự thay đổi từ người giảng dạy theo cách truyền thống (đọc và chép) sang người hướng dẫn, định hướng nhằm phát huy tối đa tư duy sáng tạo, chủ động của học sinh. Ứng dụng công nghệ 4. Cuộc chạy đua cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng mạnh mẽ, dữ dội và chưa có hồi kết, ngành Y tế chắc chắn cũng không thể đứng ngoài cuộc đua đó. Bởi công nghệ 4.0 trong y tế là đặc biệt quan trọng và cần thiết, không chỉ hỗ trợ đội ngũ y bác sĩ trong điều trị và chẩn đoán tình trạng bệnh mà còn giúp người dân phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe một cách tối đa khi tham gia vào các hoạt động trong cộng đồng.
Minh chứng rõ nét nhất là đợt dịch Covid -19 vừa rồi, công nghệ 4.0 đã hỗ trợ đắc lực trong việc khai báo y tế. Truy xuất nguồn lây lan giúp cho công tác phòng chống dịch của Việt Nam đạt được thành công. Hay phần mềm khám bệnh trực tuyến tại nhà đã được triển khai. Giúp người dân không phải đến bệnh viện mà vẫn được chẩn đoán bởi đội ngũ bác sĩ chuyên khoa 24/7.
Bên cạnh đó, công nghệ 4.0 trong y tế thông qua trí tuệ nhân tạo AI giúp phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác, đội ngũ y bác sĩ dễ dàng hơn trong việc thu thập và xử lý dữ liệu, hỗ trợ chẩn đoán, nghiên cứu, đánh giá kết quả, đưa ra phương pháp hay phác đồ điều trị cho từng trường hợp cụ thể…Một số bệnh viện lớn trên thế giới còn ứng dụng công nghệ 4.0 vào y tế thông qua Robot để hỗ trợ các ca phẫn thuật đạt độ chính xác cao thay cho con người. Ứng dụng công nghệ 4.0 trong nông nghiệp. Khác với khái niệm nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp 4.0 là sự thay đổi phương thức quản lý mà ở đó người nông dân không cần xuất hiện trực tiếp tại vùng sản xuất nhưng vẫn làm tăng năng suất sản lượng đáng kể so với cách trồng nông nghiệp kiểu cũ.0 được áp dụng trong nông nghiệp mang lại những dấu hiệu tích cực.