CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu về năng suất lao động Mặc dù khái niệm năng suất đã được biết đến từ rất lâu, nhưng ý nghĩa thực sự của năng suất mới được chú trọng vào những năm 1950, sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Mỹ là quốc gia đầu tiên quan tâm tới vấn đề năng suất và thành lập ra Ủy ban Hỗ trợ Sản xuất phục vụ chiến tranh để triển khai các hoạt động nghiên cứu cải tiến năng suất các ngành công nghiệp phục vụ cho chiến tranh. Kết quả của những chương trình cải tiến năng suất đã được vận dụng để hỗ trợ và tái cấu trúc nền kinh tế Châu Âu. Sau đó thông qua Kế hoạch Marshall, Mỹ đã chia sẻ các nguồn lực, công nghệ, hệ thống quản lý với các nước, bắt đầu từ Anh, tiếp theo là các hoạt động hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các nước Châu Âu.
Đây là điểm khởi đầu cho phong trào nâng cao năng suất trên toàn thế giới. Dựa trên nền tảng này, Ủy ban Năng suất Châu Âu đã đưa ra khái niệm năng suất mang ý nghĩa xã hội, đó là “cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua những nỗ lực của ba bên: Chủ doanh nghiệp, Người lao động và Chính phủ”. Ý tưởng này đã được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ủng hộ, trở thành nền tảng ra đời của khái niệm năng suất ở Châu Âu và cũng là định hướng cho phong trào năng suất. Kể từ đó, tăng năng suất luôn là mục tiêu mà các quốc gia, tổ chức và cá nhân hướng tới trong quá trình phát triển và là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm lớn của giới nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách.
Cho đến nay, hệ thống khung lý luận về năng suất đã được phát triển tương đối đầy đủ, từ khái niệm, cách thức đo lường đến phân tích các yếu tố tác động. Tài liệu phổ biến và đầy đủ nhất về khái niệm, phân loại và cách thức đo năng suất phải kể đến là Cẩm nang đo năng suất của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2001). Trong tài liệu này cho rằng, các chỉ tiêu năng suất là các chỉ tiêu cốt lõi để phân tích tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên có nhiều cách tiếp cận đo năng suất khác nhau, dẫn đến các diễn giải cần rất thận trọng, đặc biệt khi so sánh quốc tế. Cuốn cẩm nang đo năng suất của OECD là tài liệu hướng dẫn đầu tiên có tính toàn diện về các chỉ tiêu năng suất khác nhau, chủ yếu là các chỉ tiêu năng suất cấp ngành.
Sự lựa chọn sử dụng các chỉ tiêu năng suất phụ thuộc vào mục đích phân tích và trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào khả năng thu thập dữ liệu. Nói chung, các chỉ tiêu năng suất được phân loại thành năng suất một yếu tố (đo tương quan giữa đầu ra và một yếu tố đầu vào) hoặc năng suất đa yếu tố (đo tương quan giữa đầu ra với nhiều yếu tố đầu vào). Trong cuốn cẩm nang cũng hướng 9 dẫn đầy đủ cách tính toán các chỉ tiêu đầu ra, đầu vào để tính năng suất. Ví dụ ở cấp ngành hoặc doanh nghiệp, đầu ra có thể tính bằng tổng giá trị sản lượng hoặc giá trị tăng thêm, cách xử lý để có được các số liệu về vốn hoặc lao động.
Cẩm nang cũng mô tả kỹ lưỡng và đầy đủ các chỉ tiêu năng suất, ý nghĩa, ưu, nhược điểm của từng chỉ tiêu và cách thức đo, mỗi chỉ tiêu có các ý nghĩa và công dụng nhất định trong đánh giá thực trạng năng suất và đề xuất các chính sách. Theo tài liệu hướng dẫn của OECD (2001), các chỉ tiêu năng suất cơ bản gồm “năng suất tổng hợp các yếu tố” hoặc “năng suất một yếu tố”. • Năng suất tổng hợp các yếu tố: + Năng suất tổng hợp các yếu tố KLEMS (trong đó K là viết tắt của vốn, L là viết tắt của lao động, E là viết tắt của năng lượng, M là viết tắt của nguyên vật liệu và S là viết tắt của dịch vụ): đo năng suất với đầu ra là tổng giá trị sản xuất và đầu vào là các yếu tố vốn, lao động và các đầu vào trung gian như năng lượng, nguyên vật liệu, dịch vụ. + Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) theo tổng giá trị sản xuất: đo năng suất với đầu ra là tổng giá trị sản xuất và đầu vào là lao động và vốn.
+ Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) tính theo giá trị tăng thêm: đo năng suất với đầu ra là giá trị tăng thêm và đầu vào là lao động và vốn. • Năng suất một yếu tố: + NSLĐ theo tổng giá trị sản xuất: đầu ra đo bằng tổng giá trị sản xuất và đầu vào là lao động. + NSLĐ tính theo giá trị tăng thêm: đầu ra đo bằng giá trị tăng thêm, đầu vào đo bằng lao động. + Năng suất vốn tính theo tổng giá trị sản xuất: đầu ra đo bằng tổng giá trị sản xuất, đầu vào đo bằng vốn.
+ Năng suất vốn theo giá trị tăng thêm: đầu ra đo bằng giá trị tăng thêm, đầu vào đo bằng vốn. Các chỉ tiêu năng suất không độc lập mà có mối liên quan với nhau, ví dụ, năng suất nhân tố tổng hợp có tác động đến nâng cao năng suất lao động. Các mối liên kết giữa các chỉ số năng suất được thiết lập với sự trợ giúp của các lý thuyết kinh tế. Các chỉ tiêu năng suất được phân thành 3 cấp: cấp quốc gia, cấp ngành và cấp doanh nghiệp.
Đối với từng cấp độ, mục đích sử dụng các chỉ tiêu năng suất sẽ khác nhau. 10 Tuy nhiên, như trong cuốn cẩm nang đã đề cập, khi vận dụng các phương pháp đo năng suất tại mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào khả năng thu thập dữ liệu. Hệ thống dữ liệu thống kê của Việt Nam không có sẵn được các số liệu yêu cầu cho mục đích tính toán, ví dụ số liệu về lao động theo giờ, hoặc chất lượng lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), NSLĐ được tính toán theo 2 cách: 1- Năng suất lao động tính theo tổng giá trị sản xuất Tổng giá trị sản xuất Năng suất lao động = ------------------------- Đầu vào lao động NSLĐ theo công thức này cho thấy hiệu quả sử dụng lao động để tạo ra tổng giá trị sản xuất.
NSLĐ một phần phản ánh năng lực cá nhân của người lao động hoặc các nỗ lực của họ trong tạo ra đầu ra, nhưng đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: thay đổi về vốn, đầu vào trung gian cũng như các thay đổi về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và hiệu quả trong doanh nghiệp (ở cấp độ doanh nghiệp) và hiệu quả trong ngành (ở cấp ngành), hiệu quả kinh tế theo quy mô, mức độ sử dụng nguồn lực …. Khi đầu ra được tính là giá trị sản xuất trên một đơn vị đầu vào lao động, tăng năng suất lao động cũng phụ thuộc vào tỷ lệ giữa đầu vào trung gian và lao động. Đầu vào trung gian là hoạt động sản xuất ở bên ngoài doanh nghiệp, như vậy nếu tính năng suất dựa trên giá trị sản xuất thì đầu ra gồm cả đầu vào trung gian mà không do yếu tố sản xuất (gồm cả lao động) trong doanh nghiệp hoặc ngành tạo ra. Kết quả thường cho thấy một mức năng suất cao hơn so với thực tế do bao gồm giá trị tạo ra bởi các doanh nghiệp khác hoặc ngành khác.
Cách tính này không phản ánh sự thay đổi đầu ra do thay đổi các đặc tính riêng của lực lượng lao động, tương tự như vậy không phản ánh đúng sự thay đổi về công nghệ và hoặc hiệu quả tác động thay đổi năng suất. 2- Năng suất lao động tính theo giá trị tăng thêm Giá trị tăng thêm Năng suất lao động = ---------------------------- Đầu vào lao động So với NSLĐ dựa trên tổng giá trị sản xuất, thay đổi NSLĐ tính theo giá trị tăng thêm sẽ phản ánh đúng hơn thực trạng hiệu quả sử dụng lao động vì chi phí trung gian đã được tách ra khỏi tổng giá trị sản xuất. Giá trị tăng thêm là một chỉ tiêu quan trọng để tính toán năng suất. Mặc dù khái niệm giá trị tăng thêm được hình thành từ cách đây hơn hai trăm năm nhưng bắt đầu được sử 11 dụng rộng rãi ở Mỹ vào những năm 20 của Thế kỷ 20, với vai trò là cơ sở cho hệ thống thưởng và khuyến khích người lao động.
Đến những năm 1950-1960, nhiều doanh nghiệp Châu Âu đã bắt đầu sử dụng khái niệm này trong đánh giá hiệu quả doanh nghiệp. Vào những năm 1970, chỉ tiêu giá trị tăng thêm đã thực sự được sử dụng phổ biến với mục tiêu tính toán năng suất. Giá trị tăng thêm phản ánh giá trị mới tạo thêm thông qua quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh tạo ra bằng các nguồn lực của mình. Nguyên vật liệu và Tổng giá trị sản xuất dịch vụ mua vào Giá trị tăng thêm Nhà cung cấp Nhà sản xuất Khách hàng Sơ đồ 1.1: Minh họa giá trị tăng thêm Giá trị tăng thêm được tạo ra từ quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ nhờ nỗ lực chung của mọi người trong một tổ chức (người lao động) và những người cùng góp vốn (các nhà đầu tư và các cổ đông).
Do vậy, giá trị tăng thêm tạo ra sẽ được dùng để trả cho những người đã đóng góp vào việc tạo ra nó dưới dạng tiền lương và phụ cấp lao động, lãi suất vay, cổ tức và lợi nhuận. Trong các công thức tính NSLĐ, đầu vào lao động có thể đo bằng: 1. Số lượng lao động (ký hiệu là N) 2. Số lao động được quy đổi ra lao động làm việc toàn thời gian (Full time equivalent - FTE) 3.
Số giờ lao động (ký hiệu là H) 4. Đầu vào lao động được điều chỉnh theo chất lượng (Quality adjusted labor input (QALI) (ký hiệu là L). Lao động vẫn là đầu vào quan trọng nhất cho các quá trình sản xuất. Cách đo NSLĐ đơn giản là sử dụng đầu vào lao động là số lao động (number of employees).
Nhưng nếu sử dụng đầu vào là số lao động thì không phản ánh được những thay đổi về thời 12 gian làm việc trung bình của mỗi nhân viên hoặc sự thay đổi kỹ năng hay chất lượng của lao động. Một cách đo lao động khác là sử dụng số lao động quy đổi ra lao động làm việc toàn thời gian.