Chương 1: Lý luân cơ bản cia pháp luật vẻ tiếp cân thông tin đắt dai trong thời đại cách mang công nghiệp 4.0 Chương 2: Thực trang pháp luật vẻ tiếp cận thông tin đất dai trong thời dai cách. mang công nghiệp 4.0 va thực tiễn thi hành tại dia bàn thành phổ Hà Nội. Chương 3: Xây dưng và hoản thiên hành lang pháp lý cho pháp luật vé tiếp cận. thông tin dat dai trong thời đai cach mang công nghiệp 4.0 và giải pháp nâng, cao hiệu quả thi hành.
CHƯƠNG1 LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VẺ TIẾP CẬN THÔNG TIN DAT ĐẠI TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4. Khái niệm tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin 1. Khái niệm thông tin và tiếp cận thông tin Khải niêm thông tin Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, "thông tin” là cụm từ được nhắc đến. tắt nhiêu trên những phương tiện truyền thông thông tin đại chủng, trên những, diễn đân khoa học, kanh tế, vẫn hóa, zã hồi.
Quả that, thông tin (Information) 1a một khái niệm cơ ban của khoa học va cũng là khái niệm trung têm của zã hội. Mọi quan hệ, moi hoạt động cia con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Moi tr thức déu bắt nguôn bằng một thông tin vẻ những điêu đã dién ra, về những cái người ta đã biết, đã nói, đã lam Và điều đó luôn zác định bản chat va chất luợng của những méi quan hé của con người Có rat nhiều cách hiểu vé thông tin. Thậm chí ngay các từ điển cũng không thé có một định nghĩa thông nhất.
Vi du: Từ điển Oxford English Dictionary thì cho ring thông tin lé "Điều ma người ta đênh giá hoặc nói đền, là tr thức, tin tức". Từ điển khác thi đơn giãn đồng nhát thông tin với kiến thức “Thông tin là điều ma người ta biết" hoặc "thông tin là sự chuyển giao tri thức lâm tăng thêm sự hiểu biết của con người" v. Nguyên nhân của sự khác nhau, trong việc sử đụng thuật ngữ này chính là do thông tin không thể cảm, năm. Người ta bat gấp thông tin chỉ trong quả trình hoat đông, thông qua tác đông trim tượng của nó.
Tit Latin “Informatio”, gốc của tir hiến dai “information” (thông tin) có hai nghĩa. Mot, nó chỉ một hành đông rét cụ thé la tao ra mốt hình dang (forme). “Hai, tuỳ theo tình huông, nó có ngiấa là sự truyền dat một ÿ tưởng, một khái niém hay một biểu tượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái tiệm thông tin cũng phát triển theo.[19] Theo nghĩa thông thường.
Thông tin la tất cả các sư việc, sự kiên, ý tưởng, phán đoán lam tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thảnh trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp tir người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, tử các ngân hang dữ liêu, hoặc tử tất cả các hiện tương quan sát được trong môi trường xung quanh Trên quan điểm triết hoc: Thông tia là sự phan anh của tư nhiên và xã hôi (thé giới vat chất) bằng ngôn từ, ký hiểu, hình ảnh v. ‘bang tat cd các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Trong bach khoa toàn thư mỡ Wikipedia, thông tin được định nghĩa là bất kỹ thực thé hoặc hình thức cùng cấp câu trả lời cho một câu hỗi nào hoặc giải quyết sự không chắc chắn.
Do đó, nó liên quan đến dữ liệu và kiến thức, vi đữ liệu đại điện cho các gia trị được gan cho các tham sé va kiển thức biểu thị sự hiểu biết về những điều thực tế hay khái niệm trừu tượng. Vĩ nó liên quan én dữ liệu, sự tổn tai cia thông tin không nhất thiết phai kết hợp với một người quan sát (ví đụ như nó tôn tại ngoài chân trời sự kiện), trong trường hợp hiểu. biết thi thông tin yêu câu một người quan sát có nhân thức. [30] Co thể thay rằng, khải niềm thông tin được đính nghĩa rất trửu tượng và ‘bao quát trong một phạm vi rộng khi nhắc đến trong tat cả những ngui nói trên.
Còn trên cơ sở pháp lý, đưới gúc nhìn của pháp luật hiện hành, theo quy định tạiĐiều 2, Luật Tiếp cân thông tin số 104/2016/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2016 thi “Thông tin Ia tia, dữ liệu được chứa đựngtrong văn bản, hé sơ, tải liệu có sẵn, tôn tại đưới dang bản viết, ban in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản. 10 vẽ, bang, dia, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nha nước tạo ra”. Vì mục dich nghiên cứu của dé tai là trên phương dién pháp luật nên. khái niệm thông tin sé được hiểu như trên đây trong qua trình nghiên cửu của luân văn “Khải niệm tiếp cân thông tin Tiếp cận thông tin (TCTT) là một hành động cu thé do chủ thé lả con người thực hiện.
Theo Điều 2 của Luật Tiệp cận thông tin năm 2016 quy định, thi: "Tiếp cận thông tin là việc doc, xem, nghe, ghỉ chép, sao chép, chụp thing tint 'Như vay, pháp luật hiên hanh đã quy định rat rõ rang va chi tiết về cả khái niém thông tin vả TCTT. Từ đây, có thé kết luân: “Tiếp cân thông tin la Việc doc, Xem nghe, ghi chép, sao chép và chup tia dit liên trong các văn bản, Aid sơ, tài liệu có sẵn và tôn tại đưới dang bản viết. bản im, bẩn điện tie tranh, Ảnh, bản v8, băng, dia bản ghi hình ghi âm hoặc các dang khác do cơ quan nhà tước tao ra” 11. Khái niệmpháp lật vé tiếp cận thông tin "Pháp luật vé TCTT là hệ thống văn ban quy pham pháp luật quy định chỉ tiết về quyên, nghĩa vu của công dân trong việc TCT.
Bên cạnh đó, còn l các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền TCT, trách nhiém, nghĩa vụ của cơ quan nha nước trong việc bảo đảm quyền TCTT của công dan, Khai niêm quyên được thông tin xuất hiện én đu tiên vào năm 1776 trong trong Luật vé tự do báo chỉ của Thuy Điển. Đạo luật nảy, bên canh việc ‘bdo về quyển từ do ngôn luân, ghỉ nhân rằng công dân cỏ quyền được “tiếp cân. tải liệu công”, Sau Chién tranh thé giới thử II, đặc biết là sau khi Chién tranh. " lạnh kết thúc, quyển tự do thông tin va TCTT ngày cảng được các quốc gia quan tâm Nếu năm 1990 chỉ có 13 nước ban hành Luật tự do thông tin! tiếp cận thông tin thì đến nay đã có gần 100 nước ban hảnh luật nảy.
Sau Thụy Điền. những nước đi tiên phong trong việc ban hành Luuật Tự do thông tin la Colombia (1885), Phan Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy (1970), Pháp (1978), Úc (1982), Hungary (1992), Hàn Quốc (1996), Kirgizstan (1997), Thai Lan (1997), Bungary (2000), Nam Phi (2000), Anh (2000). Gan đây hơn, nhiễu quốc gia ‘ban hành luật trong lĩnh vực nay là Thổ NHĩ Kỷ (2003), Pênu (2003), Nhật Bản. Theo Tony Mendel, chuyên gia quốc é quyền TCTT, thi xu hướng ngày cảng có nhiều luật về tư do thông tin được ban hành bởi quan điểm phé biển trên thé giới hiên nay là các cơ quan công quyển nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân ho mà la vì lợi ích công công [13] TCTT là một trong những quyển cơ bản của con người, thuộc nhóm.
quyền dân sự - chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thé giới về quyền. con người năm 1948, Ở Việt Nam, quyển TCTT được thể hiện ở Điển 25 Chương II Hiền pháp Việt Nam năm 2013. Theo đó, “Công dân có quyền tự do ngôn luân, tw do báo chi, tiép cận thông tin, hôi hop, lap hội, biểu tỉnh. Việc thực hiện các quyển nay do pháp luật quy định”.
Cơ sở pháp lý quan trong nay đã khẳng định, người dan có quyền được TCT trong tắt cả các lĩnh vực (trừ. thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, bi mật quốc gia, bi mật cá nhân, .) Quyên TCTT (right to access to information) thường được hiểu là quyền. của cá nhân, công dân tiếp cận các thông tin do cơ quan nha nước nắm giữ hoặc thông tin do cơ quan hanh chính nắm giữ: Việc tiếp cận các thông tin của cả nhân, doanh nghiệp thi sẽ do luật dân sự điều chỉnh, vì day là quan hệ dân sự giữa các chủ thể tư. Tự do thông tin (feedom of information) bao gồm tự do tìm kiêm, tiếp nhận, tiếp cận, chia sẽ, trao đổi va phố biển thông tin.
Những nội dung của tự do thông tin cũng chính là những thành tổ của tư do biểu đạt. Khoản 2 Điều 19 của Công tước quốc tế vé các quyền dân sự và chính tri (ICCPR, 1966) xác định. quyền tự do biểu đạt bao gồm tự do tìm kiểm, tiếp nhân và phổ biển, truyền đạt ‘moi thông tin và ý kiến (fo seek recetve and impart information and ideas of ail kinds), Như vay có thé thay (quyển) tự do thông tin réng hơn quyển TCT. Quyên TCTT đối khi còn được giải thích với nghĩa hep hon lá quyển được biết vẻ tổ chức, hoat đông của một chủ thé nao đó, đặc biết lả của các cơ quan nhà nước (gằm cơ quan lập pháp, hành pháp va tư pháp, ở trung ương va dia phương).
Mặc đủ Điều 19 ICCPR không để cập dén thuật ngữ "tiếp cân thông tin", Binh luận chung số 34 của Uy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc HRC? (2011), cũng như nhiều kết luận của Báo cáo viên đặc biết về tu do ngôn luận và biểu. đạt trước đó, đã đặc biệt lưu y đến quyển tiếp cân các thông tin nắm giữ bai cơ quan nhà nước. HRC giải thích rng quyền này được bao ham trong Khoản 2 Điều 19, theo đó, moi người có quyên TCTT mà các cơ quan công quyển nắm giữ, các thông tin đó bao gồm các dạng hỗ sơ bat kể hình thức lưu trữ, nguồn tin và ngày sác lập. Quyên TCTT bao gồm quyển của truyền thông được TCT vẻ các vân để công, quyển của công chúng nói chung được tiếp nhận sản phẩm.
“TCCPR: Beenutsmul Covent on Cail and Poitiel Rights, là một cổng vóc qc té do Đi Hội đồng Liên TÖệp Quic thông uangiy 16 hing 12 nim 1966 vi coi he tingiy 23 thing 03 xôn 1976,ndu dng qua cic quyềndin svt du ce bi cia con gest “HRC: Fim Rigas Commate, ico quan ete Lin iệp Que gina 18 duyên gia ep cobs ‘wuthinta cic De cio dh ky ấm tin cn 162 ước dụnh vn Ln Hp Quoc vì we tực hện Cổng óc Quốc Din arvi Chánh tị, vi cic Quyền 1 truyền thông, quyền của cá nhân biết được các cơ quan công quyền, cá nhân hay tổ chức nao kiểm soát, có thể kiểm soát dữ liệu cá nhân của minh. Cũng trong Binh luên chung số 34, HRC kêu gọi các quốc gia thành viên.