Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm rau an toàn Chương 2: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng rau an toàn khu vực Thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp quản trị chuỗi cung ứng rau an toàn khu vực Thành phố Hà Nội Luan van 7 CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM RAU AN TOÀN 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Khái niệm chuỗi cung ứng xuất hiện vào cuối thập niên 80 và trở nên phổ biến vào những năm 90. Trước thời điểm đó, các doanh nghiệp đã sử dụng nhiều khái niệm thay thế như “hậu cần” và “quản trị hoạt động”. Dưới đây là một vài khái niệm của chuỗi cung ứng. “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức có liên quan, thông qua các liên kết ngược và xuôi, trong các quy trình và hoạt động khác nhau tạo ra giá trị dưới dạng sản phẩm và dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng”.
“Chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và tài nguyên liên quan đến việc lập kế hoạch, di chuyển hoặc lưu trữ sản phẩm, dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng”. Myerson, Supply Chain and Logistics Management Made Easy, 2015, trang 23). “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức và quy trình trong đó một số doanh nghiệp khác nhau như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hợp tác, phối hợp dọc theo chuỗi giá trị để mua nguyên liệu thô, chuyển đổi các nguyên liệu thô thành các sản phẩm cuối cùng và cung cấp cho khách hàng”. Sơ đồ 1-1: Chuỗi cung ứng tổng quát Dựa theo các khái niệm trên, một chuỗi cung ứng bao gồm các liên kết giữa các nhân tố, trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm: Luan van 8 - Hoạt động cung cấp: Tập trung vào quá trình cung cấp nguyên vật liệu đầu vào như thế nào? Thu mua từ đâu và khi nào nguyên vật liệu được cung cấp đầy đủ nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất.
- Hoạt động sản xuất: là quá trình biến đổi nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng. - Hoạt động phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng Ở hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó. Đây là một nhóm các bộ phận cơ bản của một chuỗi cung ứng đơn giản. Chuỗi cung ứng mở rộng chứa ba nhóm thành viên, gồm: Đầu tiên là nhà cung cấp của đơn vị cung cấp, hay là nhà cung cấp cuối cùng của chuỗi cung ứng mở rộng.
Tiếp theo là khách hàng của khách hàng, hay là khách hàng cuối cùng trong giai đoạn cuối của chuỗi cung ứng mở rộng. Cuối cùng là một danh sách gồm toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ giao nhận, tài chính, marketing và công nghệ thông tin cho những công ty khác trong chuỗi. Bất kỳ chuỗi cung ứng nào ở trên cũng đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các doanh nghiệp thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong bất kỳ chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp này chính là nhà sản xuất, nhà phân phối hay người bán sỉ, bán lẻ hàng hóa và các công ty hoặc cá nhân đóng vai trò là khách hàng, những người tiêu dùng thực sự.
Hỗ trợ cho các doanh nghiệp này là những nhà cung cấp các dịch vụ thiết yếu. Luan van 9 Sơ đồ 1-2: Các cấu trúc của chuỗi cung ứng (Nguồn: Dmitry Ivanov, Alexander Tsipoulanidis, Jorn Schonberger, Global Supply Chain and Operations Management) 1.3 Phân loại chuỗi cung ứng Có rất nhiều tiêu chí để phân loại chuỗi cung ứng khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu luận văn đề cập một số tiêu chí phân loại như sau: - Phân loại theo đặc tính của sản phẩm Theo tiêu chí này có thể phân loại chuỗi cung ứng thành 2 loại Chuỗi cung ứng có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain): Các sản phẩm thay đổi liên tục trên thị trường, đặc điểm của loại chuỗi này là thông tin được chia sẻ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ qua chuỗi lớn và vòng đời sản phẩm ngắn. Chuỗi có sản phẩm mang tính chắc năng (Functional Supply Chain): Đặc tính sản phẩm ít thay đổi, nhu cầu thị trường ít biến động.
Để tăng hiệu suất hoạt Luan van 10 động của chuỗi nên tìm cách giảm chi phí sản xuất, vận chuyển và giao dịch. Quản lý chuỗi chú trọng đến giảm tồn kho và tăng sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên lẫn nhau. - Phân loại dựa vào cách thức đưa sản phẩm ra thị trường Theo tiêu chí này có thể phân loại chuỗi cung ứng thành 2 loại Chuỗi đẩy (Push Supply Chain): Sản phẩm được sản xuất và lưu kho, sản xuất song song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Các nhà sản xuất cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi kho của mình đến lớp tiếp theo trong kênh phân phối.
Đến lượt các lớp này tiếp tục đẩy sản phẩm lên phía trước gần khách hàng hơn. Quyền lực nằm trong tay nhà cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán về giá cả, khách hàng không có nhiều cơ hội lựa chọn. Chuỗi kéo (Pull Supply Chain): Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trên thị trường, họ tìm kiếm các nhà cung cấp có thể đáp ứng nhu cầu của họ. Các nhà sản xuất lại tìm các nhà thầu phụ, các nhà cung cấp khác có thể giúp họ hoàn thành hợp đồng.
Quá trình này cứ thể lặp lại và chuỗi cung ứng được hình thành. Khách hàng có cơ hội lựa chọn những nhà cung cấp có khả năng mang lại giá trị sản phẩm tốt nhất so với nhu cầu của họ.4 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng Trong chuỗi cung ứng có 3 dòng chảy cơ bản xuyên suốt chiều dài của chuỗi là dòng sản phẩm/dịch vụ, dòng thông tin và dòng tiền. Luan van 11 Sơ đồ 1-3: Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng (Nguồn: Dmitry Ivanov, Alexander Tsipoulanidis, Jorn Schonberger, Global Supply Chain and Operations Management) - Dòng sản phẩm/dịch vụ Là dòng chảy không thể thiếu được trong chuỗi, xuất phát từ các nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng. Các nhà quản lý tập trung vào kiểm soát dòng nguyên liệu bằng cách sử dụng dòng thông tin sao cho dòng tiền đổ vào chuỗi là lớn nhất.
Dòng nguyên liệu đi từ nhà cung cấp đầu tiên được xử lý qua các trung gian, được chuyển đến doanh nghiệp trung tâm để sản xuất ra thành phẩm và chuyển đến tay khách hàng thông qua các kênh phân phối. Dòng nguyên vật liệu chảy trong chuỗi bị ảnh hưởng rất lớn bởi cấu trúc vật lý của các thành viên trong chuỗi (máy móc, thiết bị,…). - Dòng thông tin trong chuỗi Có tính 2 chiều gồm dòng đặt hàng từ phía khách hàng về phía trước chuỗi, mang những thông tin thị trường, đặc điểm sản phẩm, nhu cầu của khách hàng, và những ý kiến phản hồi của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ; dòng phản hồi từ phía các nhà cung cấp: được nhận và xử lý thông qua bộ phận thu mua. Các thông tin phản hồi này phản ảnh tình hình hoạt động của thị trường nguyên liệu, được xử lý rất kỹ trước khi chuyển tới khách hàng.
Luan van 12 Mức độ chia sẻ thông tin phụ thuộc đối tác được chọn lựa để chia sẻ, dạng thông tin và chất lượng của thông tin. Có nhiều dạng thông tin trong chuỗi cung ứng: dạng thông tin chiến lược, chiến thuật, vận hành. Giá trị của thông tin là kịp thời và chính xác, phụ thuộc vào lợi ích mà các doanh nghiệp có thể nhận được từ thông tin đó, giá trị không còn nếu cơ hội đã trôi qua. Việc xử lý chậm hoặc trì hoãn chuyển giao thông tin theo dòng ngược càng làm ảnh hưởng trầm trọng đến tốc độ đáp ứng của dòng sản phẩm dịch vụ theo chiều xuôi tới khách hàng, do vậy ảnh hưởng đến cả dòng tiền phía sau.
Trong chuỗi cung ứng, dòng thông tin là dòng đi trước về mặt thời gian, xuyên suốt mọi quá trình, ngay sau khi cả dòng sản phẩm và dòng tiền đã thực hiện hoàn tất - Dòng tiền Dòng tiền được đưa vào chuỗi bởi duy nhất người tiêu dùng khi họ đã nhận được sản phẩm/dịch vụ hoặc đầy đủ các chứng từ hoá đơn hợp lệ. Có thể thấy chính lợi nhuận đã liên kết các doanh nghiệp trong chuỗi lại với nhau. Chuỗi cung ứng tạo nên chuỗi giá trị trong đó các thành viên có cơ hội chia sẻ dòng tiền ở mức độ khác nhau tuỳ vào vai trò và vị thế của mỗi doanh nghiệp. Thực chất các dòng trên đây là các hoạt động kinh doanh cơ bản, được thực hiện liên tục giữa các thành viên để hỗ trợ cho việc giao dịch mua bán trong chuỗi cung ứng, hay tạo ra sự kết nối vận hành thông suốt trong hoạt động kinh doanh toàn chuỗi.
Vì vậy, một chuỗi cung ứng chỉ đạt được những lợi thế khi thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh của mình hay vận hành thông suốt các dòng chảy hàng hóa, thông tin, dòng tiền. Điều này chỉ đạt được khi có sự phối hợp tốt nhất giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Do đó, phải đảm bảo các dòng vận động trên được lưu thông nhanh chóng, hiệu quả và phối hợp chặt chẽ.2 Quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Dựa trên khái niệm về chuỗi cung ứng, ta có thể định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng là những thao tác nhằm tác động đến hoạt động của chuỗi cung ứng để Luan van 13 đạt được kết quả mong muốn. Dưới đây là một số khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng.
“Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc lập kế hoạch, quản trị tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung ứng, mua sắm, sản xuất và quản lý hậu cần. Nó cũng bao gồm các thành phần quan trọng của sự phối hợp và hợp tác với các đối tác như là nhà cung cấp, trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng”. Myerson, Supply Chain and Logistics Management Made Easy, 2015, trang 24). “Quản lý Chuỗi cung ứng (SCM) là sự phối hợp giữa các bộ phận và liên doanh nghiệp.