Chương 1: Understanding the Supply Chain -9- 1. Các yếu tố trong quản trị chuỗi cung ứng Theo mô hình SCOR, do Hội đồng Dây chuyển - Cung ứng xây dựng (supply Chain Coucil Inc., 1150 Freeport Road, Pittsburgh, PA 15238). Quan tri chuéi cung ứng có bốn hoạt động chính là lập kế hoạch, tìm nguồn, thực hiện và phân phối (theo hình sau:) LẬP KẾ HOẠCH - Dự đoán yêu cầu - Định giá sản phẩm - Quản lý hàng tổn kho PHÂN PHỐI TÌM NGUỒN HÀNG - Quản lý đơn đặt hàng - Mua - Lên lịch phân phối - Quản lý tiêu thụ - Tìm và lựa chọn nhà cung cấp - Đàm phán hợp đồng - Quản lý hợp đồng THUC HIEN SAN XUAT -Thiết kế sản phẩm sản xuất - Lên lịch sản xuất - Quản lý cơ sở sản xuất Hình 1-3 : Bốn Loại hoạt động của chuỗi Cung ứng 1. Lập kế hoạch Lập kế hoạch bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để lập kế hoạch như: lập kế hoạch dự đoán nhu cầu, lên kế hoạch định giá sản phẩm, lên kế hoạch quản lý hàng tổn kho.
Lập kế hoạch dự đoán yêu cầu Những quyết định quản lý chuỗi cung ứng được dựa trên những dự đoán xác định xem người ta sẽ yêu cầu sản phẩm nào, họ sẽ đòi hỏi những sản phẩm này với số lượng bao nhiêu và khi nào sẽ cần đến chúng, việc dự đoán nhu cầu là cơ sở để chúng ta lên kế hoạch về những hoạt động nội bộ và cộng tác với nhau để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tất cả những dự đoán đều đối phó với bốn biến số chủ yếu mà kết hợp với nhau để xác định xem tình hình của thị trường sẽ như thế nào. Những biến số này là: nhu cầu, nguồn cung, những đặc điểm của sản phẩm, môi trường cạnh tranh. - Nhu cầu: là nhu cầu của toàn bộ thị trường đối với một nhóm sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan.
Thị trường đang phát triển hoặc suy thoái? Nếu vậy, thì tỷ lệ của sự phát triển hoặc suy thoái mỗi năm hoặc mỗi quý là bao nhiêu? Hoặc thị trường có lẽ tương đối phát triển, và nhu cầu ổn định ở một mức độ có thể tiên đoán trước vài năm. Thị trường có thể là một thị trường đang phát triển thì những sản phẩm và dịch vụ đều mới mẻ, và không có nhiều đữ liệu lịch sử về nhu câu, hoặc nhu câu thay đổi rất nhiều, bởi vì khách hàng mới chỉ được giới thiệu về sản phẩm. Những thị trường nào mà trong đó có ít dữ liệu lịch sử và lại có nhiều độ biến thiên, thì thị trường đó khó khăn nhất khi phải dự đoán nhu cầu. - Nguồn cung: được xác định bằng con số những nhà sản xuất đối với một sản phẩm và thời gian sản xuất liên quan đến một sản phẩm càng có nhiều nhà sản xuất đối với một sản phẩm và thời gian sản xuất càng ngắn, biến số này càng dễ dự đoán.
Khi chỉ có vài nhà cung ứng, hoặc khi thời gian sản xuất dài hơn thì tính không chắc chắn tìm ẩn trong thị trường càng lớn. Giống như tính biến thiên về mặt nhu cầu, tính bấp bênh về mặt cung ứng làm cho dự đoán càng khó hơn. - Những đặc điểm của sản phẩm: bao gồm những đặc tính của một sản phẩm mà có ảnh hưởng đến nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm. Liệu sản phẩm đó có mới mẻ và phát triển nhanh chóng hoặc liệu sản phẩm đã chín mùi và thay -ll- d6i chim hoic khong hé thay đổi.
Việc dự đoán đối với những sản phẩm chín mùi có thể bao gồm khung thời gian dài hơn, so với việc dự đoán những sản phẩm đang phát triển nhanh chóng. Một điều cũng quan trọng là phải nhận biết xem một sản phẩm có chiếm mất nhu câu đối với một sản phẩm khác hay không. Có thể thay thế sản phẩm này bằng một sản phẩm khác không? Hoặc liệu việc sử dụng một sản phẩm sẽ kéo theo việc sử dụng một sản phẩm bổ sung có liên quan không? Nên dự đoán cùng lúc một sản phẩm có tính cạnh tranh hoặc bổ sung cho nhau. - Môi trường cạnh tranh: là những hành động của một công ty và các công ty cạnh tranh với nó.
Thị phần của công ty là gì? Thị phần này đang phát triển hoặc suy giảm? Khuynh hướng thị phần của các công ty cạnh tranh là gì? Các cuộc chiến giảm giá và khuyến mãi sản phẩm có thể ảnh hưởng đến khuynh hướng thị phần, vì thế khi dự đoán nên quan tâm đến những sự kiện như vậy. Có bốn phương pháp dự đoán cơ bản. Chopra va Meindl dinh nghia cdc phuong pháp này là: định tính, nhân quả, chuỗi thời gian, mô phỏng. Các phương pháp định tính dựa trên trực giác hoặc những ý kiến chủ quan của một người về một thị trường.
Các phương pháp này phù hợp nhất khi có ít dữ liệu lịch sử để tiến hành cùng nó. Khi giới thiệu một dòng sản phẩm mới, người ta có thể dự đoán dựa trên cách so sánh với những sản phẩm hoặc tình hình khác mà họ cho là tương tự. Các phương pháp dự đoán nhân quả giả định rằng nhu cầu có quan hệ mạnh mẽ với các nhân tố thuộc môi trường đặc trưng của thị trường. Chẳng hạn, mối quan hệ nhân quả giữa giảm giá và nhu câu.
Nếu giá cả thấp, thì có thể mong đợi nhu câu gia tăng và nếu giá cả tăng thì nhu cầu có thể giảm. Các phương pháp chuỗi thời gian là hình thức dự đoán phổ biến nhất. Chúng dựa trên việc thừa nhận rằng những kiểu mẫu nhu câu mang tính cách lịch sử đều là biểu thị tốt đối với nhu câu tương lai. Các phương pháp này tốt nhất khi có nhiều -12- dữ liệu lịch sử đáng tin tưởng, các thị trường dự đoán đều ổn định và có kiểu mẫu nhu cầu không thay đổi lắm từ năm này sang năm sau.
Các phương pháp mô phỏng sử dụng tổng hợp các phương pháp chuỗi thời gian và nhân quả để bắt chước thái độ của người tiêu dùng trong những hoàn cảnh khác nhau. Có thể sử dụng các phương pháp này để trả lời những câu hỏi như: điều gì sẽ xảy ra đối với mức thu nhập, nếu giá cả trên một mặt hàng của những sản phẩm đều thấp; hoặc điều gì sẽ xảy ra đối với thị phần, nếu một đối thủ cạnh tranh giới thiệu một sản phẩm cạnh tranh hoặc mở một cửa hàng gần đó. Tuy nhiên các nghiên cứu đều chứng tỏ rằng phương pháp tạo ra những dự đoán bằng cách sử dụng các phương pháp khác nhau, rồi sau đó, tổng hợp những kết quả thành một dự đoán cuối cùng thường có độ chính xác tốt hơn, so với kết quả riêng biệt của bất kỳ phương pháp nào. Những dự đoán luôn sai sót đến một mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
Không có dự đoán nào hoàn hảo, và các doanh nghiệp cần ấn định một mức độ sai sót mà họ cho rằng mỗi dự đoán đều có. Một dự đoán chính xác có một mức độ sai sót cộng thêm hoặc trừ đi 5%. Một dự đoán có tính chất suy đoán hơn có thể có một mức độ sai sót cộng thêm hoặc trừ đi 20%. Điều quan trọng là nhận biết mức độ sai sót, bởi vì doanh nghiệp phải có kế hoạch dự phòng, để kiểm soát những kết quả đó.
Sau khi đã dự đoán nhu cầu, bước kế tiếp là tạo ra một kế hoạch cho công ty, để đáp ứng nhu cầu mong đợi. Cách này được gọi là kế hoạch tổng hợp, và mục đích của nó là thỏa mãn nhu cầu bằng cách gia tăng tối đa lợi nhuận cho công ty. Việc lên kế hoạch được thực hiện ở mức độ tổng hợp, chứ không phải ở mức độ tồn kho theo đơn vị. Có ba phương pháp lập kế hoạch tổng hợp cơ bản.
Chúng liên quan đến ba biến số. Những biến số này là: công suất sẳn xuất, mức độ sử dụng công suất và khối lượng hàng tổn kho cần tích trữ. Nhưng trên thực tế hầu hết các công ty đều lập kế hoạch tổng hợp với sự phối hợp cả ba phương pháp này: - 13- - Sử dụng công suất sản xuất để phù hợp nhu cầu. Trong phương pháp này tổng công suất sẩn xuất phù hợp với mức độ nhu cầu.
Ở đây, mục tiêu là luôn sử dụng 100% công suất. Phương pháp này được hoàn tất bằng cách bổ sung hoặc loại bỏ công suất của máy móc khi cần thiết và thuê mướn hoặc sa thải nhân viên khi cần thiết. Những kết quả của phương pháp này là đạt được mức độ thấp hơn về hàng tồn kho nhưng có thể rất tốn kém khi thực hiện, nếu ch¡ phí bổ sung hoặc loại bỏ máy móc đều cao. Phương pháp này có hiệu quả khi chi phí lưu trữ hàng tổn kho cao và chỉ phí để thay đổi công suất - máy móc và lực lượng lao động thì lại thấp.
- Sử dụng những mức độ khác nhau của tổng công suất để phù hợp nhu cầu. Có thể sử dụng phương pháp này nếu công suất sản xuất sẵn có dư thừa, bằng cách gia tăng hoặc giảm bớt việc sử dụng công suất sản xuất. Có thể duy trì lực lượng lao động ở một tỷ lệ ổn định và vẫn sử dụng được cách lên lịch trình làm việc ngoài giờ và linh hoạt để phù hợp với các mức sản xuất. Kết quả là mức độ hàng tổn kho thấp và mức độ sử dụng công suất trung bình cũng thấp hơn.
Phương pháp này có ý nghĩa khi chi phí lưu trữ hàng tổn kho cao, và chi phí của công suất sản xuất dư thừa tương đối thấp. - Sử dụng hàng tôn kho và đơn đặt hàng tôn đọng để phù hợp nhu cầu. Việc sử dụng phương pháp này cung cấp khả năng ổn định trong công suất của máy móc và lực lượng lao động và có thể có một mức sản lượng nhất quán. Phương pháp này mang lại kết quả là mức sử dụng công suất cao hơn và chi phí của việc thay đổi công suất thấp hơn, nhưng nó lại phát sinh nhiều hàng tổn kho và đơn đặt hàng tồn đọng theo thời gian, khi nhu cầu dao động.
Nên sử dụng phương pháp này khi chi phí công suất và thay đổi công suất đều cao, và chi phí của việc lưu trữ hàng tồn kho và đơn đặt hàng tồn đọng tương đối thấp. Định giá sản phẩm Theo thời gian, các công ty và toàn bộ dây chuyển sản xuất có thể ảnh hưởng đến nhu cầu bằng cách sử dụng giá cả. Dù giá cả được sử dụng như thế nào, giá cả -14- đều nhằm gia tăng tối đa doanh thu hoặc lãi gộp.